Đánh thuế đất bỏ hoang: Đừng để doanh nghiệp chịu thiệt
Đề xuất tăng thuế đất bỏ hoang nhằm chống đầu cơ, lãng phí là cần thiết, nhưng chuyên gia cho rằng phải tránh đánh đồng với những dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý.
Theo đề xuất của Bộ Tài chính, đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng có thể chịu thuế suất 0,2%, không áp dụng hạn mức. Mức thuế này cao gần 7 lần so với thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với đất ở trong hạn mức.
.jpg)
Đề xuất được đưa ra trong quá trình xây dựng dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ đất và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai.
Theo quy định hiện hành của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp chịu thuế suất 0,03%; đất sử dụng không đúng mục đích hoặc chưa sử dụng theo đúng quy định chịu thuế suất 0,15%. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định riêng mức thuế đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, một số ý kiến cho rằng việc nghiên cứu tăng thuế là cần thiết trong bối cảnh tình trạng đất bị bỏ trống kéo dài vẫn diễn ra tại một số địa phương. Không ít khu đất có vị trí thuận lợi chưa được khai thác, trong khi nhu cầu sử dụng đất phục vụ sản xuất, kinh doanh và phát triển đô thị còn rất lớn.
Khi chi phí nắm giữ đất tăng, những trường hợp cố tình găm giữ đất chờ tăng giá sẽ phải cân nhắc lại hiệu quả kinh tế. Đây cũng là cách sử dụng công cụ thuế để điều tiết hành vi, thay vì chỉ xử lý khi đã phát sinh vi phạm. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm không chỉ là mức thuế bao nhiêu, mà còn là đối tượng nào sẽ phải chịu thuế.
Theo Luật sư Nguyễn Đức Biên – Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại La, việc nghiên cứu áp dụng thuế suất cao đối với đất bỏ hoang là hướng đi cần thiết nhằm hạn chế đầu cơ, sử dụng đất kém hiệu quả. Nhưng, chính sách phải bảo đảm tính công bằng, không đánh đồng mọi trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng.
Đất đai là nguồn lực có hạn, việc để đất không được khai thác trong thời gian dài không chỉ gây lãng phí mà còn ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận đất của những nhà đầu tư có nhu cầu thực sự. Song, trước khi xác định nghĩa vụ thuế, cần làm rõ nguyên nhân khiến đất chưa được sử dụng.
Chẳng hạn, doanh nghiệp đã được giao đất, cho thuê đất, có đầy đủ điều kiện triển khai nhưng cố tình không thực hiện dự án thì việc áp dụng mức thuế cao để hạn chế găm giữ đất là có cơ sở. Ngược lại, nếu doanh nghiệp đã thực hiện các thủ tục thuộc trách nhiệm của mình nhưng dự án phải chờ điều chỉnh quy hoạch, giải quyết vướng mắc về đất đai hoặc hoàn tất thủ tục hành chính, việc áp dụng cùng một mức thuế có thể dẫn đến bất hợp lý.

Đáng chú ý, theo Luật sư Biên, pháp luật đất đai hiện hành đã có những quy định về tiến độ sử dụng đất, gia hạn thời gian đưa đất vào sử dụng và xử lý trường hợp vi phạm. Vì vậy, khi bổ sung chính sách thuế, cần xem xét mối quan hệ với những quy định này để bảo đảm tính thống nhất, tránh phát sinh những cách áp dụng khác nhau.
Một dự án được cơ quan có thẩm quyền xác định chậm tiến độ vì nguyên nhân khách quan cần được xem xét trên cơ sở hồ sơ pháp lý và các quy định liên quan. Không nên chỉ nhìn vào tình trạng đất chưa được khai thác để mặc nhiên kết luận doanh nghiệp cố tình bỏ hoang đất.
Theo Luật sư Biên, dự thảo cần làm rõ thời điểm bắt đầu xác định đất chậm đưa vào sử dụng. Bởi thời điểm chấp thuận chủ trương đầu tư, giao đất trên thực tế và thời điểm doanh nghiệp có đủ điều kiện triển khai dự án có thể không trùng nhau.
Nếu thiếu quy định cụ thể, doanh nghiệp sẽ khó dự liệu nghĩa vụ tài chính, còn cơ quan thực thi có thể gặp vướng mắc khi xác định thời gian và nguyên nhân chậm sử dụng đất. Để khắc phục, luật sư cho rằng cần quy định rõ tiêu chí nhận diện đất bỏ hoang, căn cứ xác định thời gian chậm sử dụng và trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan quản lý. Người sử dụng đất phải có quyền giải trình, cung cấp tài liệu chứng minh nguyên nhân chậm triển khai để được xem xét theo quy định.
Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý đất đai, bảo đảm việc xác định nghĩa vụ thuế dựa trên thông tin đầy đủ, thống nhất, thay vì buộc doanh nghiệp phải giải trình nhiều lần về cùng một vướng mắc.
Với những dự án chậm tiến độ do nguyên nhân thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước hoặc các trường hợp bất khả kháng, cần nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp, có căn cứ rõ ràng và tránh bị lợi dụng để né tránh nghĩa vụ thuế.
Theo Luật sư Biên, mục tiêu quan trọng nhất của chính sách không phải tăng số thu từ đất bỏ hoang, mà là tạo động lực đưa đất vào sử dụng hiệu quả. Muốn vậy, thuế phải đủ sức tác động đến hành vi cố tình găm giữ đất, đồng thời không làm gia tăng bất lợi cho doanh nghiệp đang thực hiện dự án một cách thiện chí.
“Chống đầu cơ, lãng phí đất đai là cần thiết, nhưng chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi xác định đúng đối tượng, đúng nguyên nhân và đúng trách nhiệm, không để doanh nghiệp phải chịu thêm gánh nặng vì những vướng mắc ngoài khả năng kiểm soát”, Luật sư Biên nhấn mạnh.
Nguyễn Giang