diendandoanhnghiep.vn

Kinh tế

Giá trị Việt trong thặng dư thương mại

Nguyễn Chuẩn

Xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng là một bài toán lớn hơn của nền kinh tế Việt Nam trong việc làm thế nào để giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước, thay vì chủ yếu đảm nhận các công đoạn sản xuất, gia công và lắp ráp.

9 thang
Xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026. Nguồn: Cục Thống kê

Theo Cục Thống kê, 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%, còn nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại ghi nhận mức nhập siêu 19,42 tỷ USD, đảo chiều so với xuất siêu 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 9, Việt Nam đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD.

Đáng chú ý, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch 140 tỷ USD trong chín tháng, đưa mức xuất siêu sang thị trường này lên 122,62 tỷ USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh Bộ Công Thương thông báo ngày 8/10 rằng Việt Nam và Hoa Kỳ đã cơ bản hoàn tất phần lớn nội dung đàm phán hiệp định thương mại đối ứng. Dù vậy, hai bên còn một số vấn đề kỹ thuật cần làm rõ trước khi hoàn tất tiến trình đàm phán và tiến tới ký kết.

Vấn đề nằm ở chỗ tăng trưởng xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ năng lực nội sinh của nền kinh tế. Cũng theo Cục Thống kê, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp 350,41 tỷ USD, tương đương 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm nay. Khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, chỉ chiếm 19,3%. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu 14,86 tỷ USD.

Những con số này không có nghĩa FDI là nguyên nhân của sự mất cân đối, bởi các tập đoàn quốc tế đã đóng góp quan trọng vào năng lực sản xuất, việc làm và xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng đặt ra câu hỏi về khả năng kết nối giữa hai khu vực doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu cung cấp nguyên liệu, linh kiện hoặc dịch vụ ở những khâu có giá trị thấp, tác động lan tỏa của dòng vốn đầu tư và tăng trưởng xuất khẩu sẽ chưa tương xứng với quy mô thương mại.

Ở góc độ quản lý xuất nhập khẩu, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, nhấn mạnh định hướng chuyển từ “Made in Vietnam” sang “Made with Vietnam Value”, tức tăng hàm lượng công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo trong sản phẩm. Ông cũng lưu ý doanh nghiệp phải kiểm soát xuất xứ, minh bạch nguồn nguyên liệu và đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường Hoa Kỳ.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50%, đồng thời đưa khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, doanh nghiệp cần tiếp cận tốt hơn với vốn, công nghệ, nhân lực kỹ thuật và các chương trình phát triển nhà cung cấp.

Thặng dư thương mại của Việt Nam vẫn là lợi thế lớn, trong khi nhập khẩu tăng cũng phản ánh nhu cầu máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ mở rộng sản xuất. Song, điều đáng quan tâm là những dòng thương mại ấy tạo ra bao nhiêu năng lực mới cho doanh nghiệp Việt Nam. Chỉ khi doanh nghiệp nội địa tiến lên các khâu thiết kế, nghiên cứu, phát triển công nghệ và xây dựng thương hiệu, tăng trưởng xuất khẩu mới có thể chuyển hóa rõ nét hơn thành năng suất, thu nhập và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguyễn Chuẩn