Sửa Luật An toàn thực phẩm: Tránh phát sinh chi phí, gián đoạn chuỗi cung ứng
Góp ý sửa đổi Luật An toàn thực phẩm, nhiều ý kiến kiến nghị rà soát các thủ tục đăng ký, kiểm tra và quy định đối với thực phẩm xuất nhập khẩu nhằm giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm chuỗi cung ứng thông suốt.
Việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm được kỳ vọng hoàn thiện khung pháp lý quản lý an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để các quy định mới đi vào thực tiễn, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cần rà soát kỹ các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và yêu cầu đối với thực phẩm xuất nhập khẩu, tránh phát sinh chi phí không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ và gây gián đoạn chuỗi cung ứng.

Góp ý Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi (Dự thảo), bà Trần Ngọc Ánh, Giám đốc đối ngoại Công ty Danone Việt Nam nêu 9 nhóm vấn đề cần rà soát, từ mở rộng diện đăng ký thực phẩm, kéo dài thời gian cấp phép, yêu cầu nghiên cứu độ ổn định, kiểm tra thực phẩm nhập khẩu đến phê duyệt cơ sở sản xuất nước ngoài, tăng cường vi chất, ghi nhãn và phân loại sản phẩm…
Theo đại diện Danone Việt Nam, các quy định này nếu chưa được đánh giá đầy đủ có thể làm tăng chi phí, kéo dài thời gian thông quan, gây quá tải thẩm định và ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới sản phẩm cũng như tính liên tục của chuỗi cung ứng.
Từ đó, doanh nghiệp kiến nghị tập trung vào ba định hướng.
Trước hết, quản lý an toàn thực phẩm cần dựa trên nguy cơ và bằng chứng khoa học, loại bỏ những thủ tục chưa chứng minh được sự cần thiết. Doanh nghiệp đề xuất bỏ yêu cầu báo cáo nghiên cứu độ ổn định trong hồ sơ đăng ký thực phẩm, hạn chế thủ tục trùng lặp và tăng cường hậu kiểm theo nguy cơ, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo sớm.
Thứ hai, cần bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, minh bạch trong thẩm định và trách nhiệm giải trình của cơ quan thực thi. Thời hạn giải quyết hồ sơ cần được rút ngắn, quy định rõ tiêu chí thẩm định, căn cứ yêu cầu bổ sung và cơ chế xử lý hồ sơ quá hạn. Đồng thời, cần bảo đảm quyền tự đánh giá sự phù hợp trong các trường hợp pháp luật cho phép, gắn với trách nhiệm của doanh nghiệp và các cam kết quốc tế.
Thứ ba, cần đánh giá đầy đủ tác động và bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn bởi thủ tục hành chính. Trước khi mở rộng nghĩa vụ, cần lượng hóa chi phí tuân thủ, năng lực xử lý hồ sơ và kiểm nghiệm, nguy cơ ùn tắc, giảm hạn sử dụng và thiếu hụt nguồn cung. Chuyển tiếp cần phù hợp chu kỳ sản xuất, nhập khẩu; bảo đảm doanh nghiệp nộp đầy đủ hồ sơ đúng hạn được tiếp tục kinh doanh khi chờ giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ xử lý về an toàn thực phẩm. Cho phép tiếp tục sử dụng bao bì và hàng hóa hợp pháp, tránh lãng phí.
Đưa ra góp ý cụ thể liên quan đến thực phẩm xuất nhập khẩu, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng khoản 1 Điều 40 Dự thảo quy định thực phẩm xuất khẩu phải “đáp ứng các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của Việt Nam” chưa phân biệt rõ giữa điều kiện đối với cơ sở, quá trình sản xuất và các chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật áp dụng trực tiếp lên sản phẩm.

Theo VCCI, thực phẩm xuất khẩu cần được sản xuất tại cơ sở đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm của Việt Nam. Tuy nhiên, các chỉ tiêu và yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm cần được xác định theo quy định của thị trường nhập khẩu, bởi yêu cầu giữa các thị trường có thể khác nhau.
VCCI dẫn ví dụ, Việt Nam quy định bắt buộc bổ sung i-ốt vào muối, sắt và kẽm vào bột mì, vitamin A vào dầu ăn. Nếu áp dụng các yêu cầu dành cho sản phẩm tiêu dùng trong nước đối với cả hàng xuất khẩu, doanh nghiệp có thể phải thay đổi công thức sản phẩm không cần thiết, phát sinh chi phí và khó đáp ứng yêu cầu của khách hàng nước ngoài.
Vì vậy, VCCI đề nghị sửa khoản 1 Điều 40 theo hướng làm rõ phạm vi áp dụng là điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở và quá trình sản xuất. Đồng thời, khoản 2 cần quy định các chỉ tiêu, giới hạn và yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm xuất khẩu thực hiện theo quy định của nước nhập khẩu hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, không bắt buộc đáp ứng thêm các yêu cầu dành riêng cho sản phẩm lưu thông, tiêu dùng tại Việt Nam.
Một vấn đề khác được VCCI đề xuất rà soát là cơ chế chuyển đổi mục đích sử dụng đối với nguyên liệu, thực phẩm nhập khẩu tại khoản 7 Điều 46 Dự thảo. VCCI đề nghị bổ sung nguyên tắc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng theo cả hai chiều, với điều kiện nguyên liệu, thực phẩm đáp ứng đầy đủ yêu cầu an toàn thực phẩm tương ứng với mục đích sử dụng mới; đồng thời giao Chính phủ quy định trình tự, thủ tục kiểm tra và chuyển đổi.
Theo VCCI, cơ chế này vừa duy trì yêu cầu an toàn thực phẩm, vừa giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh phương án sản xuất, kinh doanh, hạn chế tình trạng tồn kho, tiêu hủy hoặc tái xuất không cần thiết đối với nguyên liệu, thực phẩm vẫn có thể sử dụng an toàn.
Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn