diendandoanhnghiep.vn

Chính sách - Quy hoạch

Thuế phải đủ sức thay đổi hành vi găm giữ đất

Diệu Hoa

Trước đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, nhiều ý kiến cho rằng mức thuế cần đủ cao để thay đổi hành vi găm giữ đất, đồng thời phải làm rõ tiêu chí áp dụng và kết hợp với cơ chế thu hồi đất chậm triển khai.

Vừa qua, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình Quốc hội dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Trong đó, đối với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định thu thuế đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Mức thuế suất dự kiến là 0,2% và không áp dụng hạn mức tính thuế.

vic-tower-cau-giay.jpeg
Nhiều ý kiến cho rằng cần nâng thuế đất bỏ hoang đủ cao để thúc đẩy đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả. Ảnh: DH

Làm rõ tiêu chí, tránh chồng chéo

Chia sẻ bên lề hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” được tổ chức gần đây, TS Nguyễn Đức Kiên - nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng mức thuế 0,2% theo đề xuất vẫn còn thấp và cần được xem xét nâng cao hơn nữa để tạo ra tác động thực chất.

Tuy vậy, vấn đề trước tiên là phải xác định rõ tiêu chí đất bỏ hoang để làm căn cứ áp dụng.

Theo TS Nguyễn Đức Kiên, chính sách thuế cần tạo ra sự khác biệt rõ rệt về lợi ích giữa nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh với những chủ thể chỉ nắm giữ đất để chờ tăng giá. Khi chi phí duy trì đất bỏ hoang đủ lớn, nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc việc triển khai dự án, chuyển nhượng cho người có nhu cầu hoặc tiếp tục chịu nghĩa vụ tài chính.

Thực tế, vẫn có những nhà đầu tư không có nhu cầu sử dụng đất nhưng tiếp tục nắm giữ với kỳ vọng giá tăng trong tương lai để chuyển nhượng kiếm lời. Trong khi đó, phần chênh lệch địa tô mà họ được hưởng có thể đến từ đầu tư hạ tầng, quy hoạch và các chính sách phát triển của Nhà nước, thay vì từ hoạt động đầu tư, khai thác của chính chủ đất.

Vì vậy, theo ông Kiên, không nên bảo vệ lợi ích của những chủ thể chỉ nắm giữ đất để chờ tăng giá. Công cụ thuế cần hướng tới việc thúc đẩy đất đai được đưa vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị cho xã hội.

Đối với lo ngại thuế cao có thể gây bất lợi cho một số nhà đầu tư, ông Kiên cho rằng nếu không đủ khả năng triển khai dự án thì cần tạo điều kiện để chủ thể khác có năng lực tiếp cận và sử dụng đất. Một cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể huy động vốn, hợp tác với các đối tác để phát triển khu đất, hình thành công trình hạ tầng và dịch vụ, thay vì tiếp tục để đất không được khai thác.

Đồng quan điểm, GS Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cho rằng giá trị đất đai cũng không chỉ tăng lên nhờ hoạt động của chủ sở hữu mà còn chịu tác động từ hệ thống giao thông, quy hoạch và sự phát triển chung của khu vực. Do đó, theo GS Đặng Hùng Võ, cần có chính sách đủ mạnh để hạn chế tình trạng nhà đầu tư hưởng lợi từ việc tăng giá đất nhưng không đưa đất vào sử dụng.

“Phải đánh thuế đủ cao để người giữ đất buộc phải cân nhắc: hoặc đưa đất vào sử dụng, tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị cho xã hội, hoặc chuyển nhượng cho người có khả năng làm được”, ông nhấn mạnh.

Theo TS Nguyễn Đức Kiên, việc xác định rõ tiêu chí đất bỏ hoang là điều kiện cần thiết để chính sách thuế được áp dụng đúng đối tượng. Bên cạnh đó, ông cho rằng cần thực hiện nghiêm các quy định hiện hành về xử lý dự án không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ, kể cả thu hồi đất theo quy định đối với những trường hợp không đáp ứng yêu cầu.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông Kiên cho biết tại Hàn Quốc và một số quốc gia khác, nghĩa vụ tài chính của nhà đầu tư gắn với kế hoạch đầu tư đã đăng ký. Nhà đầu tư xác định quy mô vốn và thời hạn dự kiến hoàn thành dự án; nếu không thực hiện đúng kế hoạch, cơ quan quản lý có thể căn cứ doanh thu dự kiến để xác định nghĩa vụ tài chính. Đồng thời, nhà đầu tư vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tiền sử dụng đất.

Kết hợp đánh thuế với thu hồi đất chậm triển khai

Bên cạnh việc nâng mức thuế, GS Đặng Hùng Võ cho rằng cần thực hiện nghiêm các quy định về thu hồi đất đối với những dự án chậm triển khai. Nếu chỉ tăng nghĩa vụ tài chính mà thiếu cơ chế giám sát tiến độ và xử lý vi phạm, tình trạng đất bị bỏ hoang hoặc dự án kéo dài vẫn có thể tiếp diễn.

1fb3f75f5e9ef1c0a88f (1)
Thuế cần kết hợp với cơ chế thu hồi đất chậm triển khai để hạn chế tình trạng găm giữ, lãng phí nguồn lực đất đai. Ảnh: DH

Theo quy định của Luật Đất đai, đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê để thực hiện dự án đầu tư nhưng không được sử dụng trong 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa, hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án, có thể được gia hạn sử dụng không quá 24 tháng và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính bổ sung theo quy định.

Hết thời gian gia hạn mà đất vẫn không được đưa vào sử dụng, Nhà nước có thể thu hồi đất theo quy định pháp luật. Cơ chế này nhằm bảo đảm nhà đầu tư thực hiện cam kết về tiến độ, đồng thời tạo điều kiện xử lý những trường hợp không sử dụng đất đúng mục đích hoặc không triển khai dự án theo yêu cầu.

Theo GS Đặng Hùng Võ, thuế và thu hồi đất cần được thực hiện đồng bộ. Thuế tạo áp lực về chi phí đối với người tiếp tục giữ đất nhưng không sử dụng, còn cơ chế thu hồi đất xử lý những trường hợp vi phạm điều kiện, tiến độ sử dụng đất theo quy định.

Từ góc độ quản lý nguồn lực, ông Võ cho rằng việc giao đất, cho thuê đất cần đi kèm trách nhiệm sử dụng cụ thể. Khi được trao quyền khai thác nguồn lực đất đai, nhà đầu tư cần thực hiện đúng cam kết và tạo ra giá trị tương ứng. Nếu không có nhu cầu hoặc không đủ năng lực triển khai, việc chuyển giao đất cho chủ thể khác có khả năng khai thác hiệu quả hơn sẽ giúp hạn chế lãng phí nguồn lực xã hội.

Diệu Hoa