Chuẩn hóa chuỗi giá trị, nâng sức cạnh tranh ngành tôm
Trước áp lực Chỉ thị Thẩm định chuỗi cung ứng bền vững (CSDDD) từ Mỹ và EU, ngành tôm buộc phải chuẩn hóa từ con giống sạch đến chuỗi cung ứng nhằm giữ vững đơn hàng tỷ USD.
Đóng góp 40 – 45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản quốc gia, ngành tôm từ lâu đã giữ vị thế “đầu tàu” kinh tế và bảo đảm sinh kế cho hàng triệu hộ dân và hàng trăm doanh nghiệp. Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh về quy mô và giá thành đang nhanh chóng suy giảm trước làn sóng chuyển dịch khắt khe của thương mại toàn cầu. Ngành tôm Việt Nam đang bước vào một phép thử sống còn: không còn là câu chuyện bán được bao nhiêu tấn hàng, mà là khả năng chứng minh từng con giống thả xuống đầm đến khâu chế biến đóng gói đều mang theo “hộ chiếu xanh” minh bạch.

ESG trở thành yêu cầu bắt buộc
Phân tích về bước ngoặt pháp lý quốc tế, TS. Hồ Xuân Dũng (Trường ĐH Luật TP HCM) nhận định rào cản kỹ thuật tại các thị trường trọng điểm, như: EU, Mỹ nay đã biến thành nghĩa vụ pháp lý mang tính cưỡng chế. Sự ra đời của Chỉ thị Thẩm định chuỗi cung ứng bền vững (CSDDD - Corporate Sustainability Due Diligence Directive) cùng quy định thẩm định nhân quyền (HRDD - Human Rights Due Diligence) của EU đã chính thức xóa bỏ thời kỳ thực hành ESG theo dạng “khuyến khích tự nguyện”.
“Giờ đây, các khuôn khổ đánh giá trách nhiệm xã hội, như: BSCI, SMETA hay các chứng nhận nuôi trồng có trách nhiệm như ASC, BAP không còn tồn tại riêng lẻ mà được tích hợp trực tiếp vào hồ sơ thẩm định chuỗi cung ứng của nhà mua hàng quốc tế. Do đó, bên nhập khẩu không chỉ dừng lại ở việc xét nghiệm dư lượng kháng sinh ở lô hàng thành phẩm tại cảng đến, mà họ truy vết ngược toàn bộ vòng đời sản phẩm: con giống có nguồn gốc an toàn sinh học từ đâu, nước thải đầm nuôi xả ra môi trường thế nào, và đặc biệt là công nhân chế biến trong nhà máy có được đảm bảo an sinh, môi trường làm việc công bằng và an toàn hay không”, TS Dũng Lưu ý.
Cũng theo TS Dũng, một chuỗi giá trị bền vững không thể xây dựng trên một nền móng lỏng lẻo, mà tính toàn vẹn của chuỗi ngành tôm phải bắt đầu chính từ khâu sản xuất tôm giống và kỹ thuật canh tác tại ao nuôi. Sở dĩ, dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, hạn mặn và thời tiết cực đoan tại Tây Nam Bộ, nếu nguồn tôm giống trôi nổi, kém chất lượng và mang mầm bệnh, tỷ lệ hao hụt đầm nuôi sẽ tăng vọt. Kéo theo đó là vòng luẩn quẩn lạm dụng hóa chất xử lý nước và kháng sinh – trực tiếp phá vỡ trụ cột Môi trường (E) trong cấu trúc ESG. Do đó, việc số hóa dữ liệu truy xuất phả hệ con giống và kiểm soát an toàn sinh học tại các trại giống là điều kiện tiên quyết.

Ở cấp độ vùng nuôi, cuộc cách mạng sinh thái đang diễn ra với các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng kết hợp công nghệ tuần hoàn nước (RAS). Những giải pháp này vừa giảm thiểu phát thải khí nhà kính, vừa thích ứng với sự khan hiếm nguồn nước ngọt, bảo đảm đầu vào đồng nhất và sạch bệnh cho khâu chế biến sâu.
Khuyến cáo ở khâu chế biến xuất khẩu, TS Dũng cho rằng áp lực ESG đè nặng lên hai trụ cột xã hội và quản trị. Trước đây, nhiều xưởng chế biến vẫn nặng tư duy đối phó, hồ sơ giấy tờ làm đẹp chỉ để đón đoàn kiểm toán và tiềm ẩn nhiều rủi ro từ việc sử dụng lao động thời vụ, cai thầu trôi nổi.
Ba nguyên tắc then chốt để giữ thị trường
Nhìn nhận về yêu cầu truy xuất chuỗi cung ứng và chứng nhận quốc tế, ông Nguyễn Hoàng Anh, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Tôm Bình Thuận, khuyến cáo các doanh nghiệp tuyệt đối không nên xem tiêu chuẩn chỉ là bộ hồ sơ đối phó để xuất khẩu, mà phải coi đây là công cụ nâng cấp hệ thống quản trị nội bộ.
Theo ông Hoàng Anh, mỗi bộ tiêu chuẩn có một sứ mệnh riêng: ASC và BAP hướng vào nuôi trồng có trách nhiệm; BSCI và SMETA thẩm định điều kiện lao động; còn Sedex là nền tảng chia sẻ dữ liệu chuỗi. Doanh nghiệp không nên chạy theo số lượng chứng nhận mà cần nắm vững 3 khuyến cáo thực thi:
Một là, xây dựng nền tảng quản trị từ bên trong: Phân công nhân sự chuyên trách rõ ràng về chất lượng, an toàn sinh học, môi trường và quan hệ lao động; kiểm tra quy trình nội bộ định kỳ thay vì chờ đoàn đánh giá.
Hai là, kiểm soát chuỗi cung ứng từ gốc: Truy xuất phải bắt đầu từ nguồn giống, cơ sở sản xuất tôm bố mẹ, điều kiện vùng nuôi, vật tư đến chế biến xuất khẩu. Phải hình thành liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp giống, thức ăn, người nuôi và nhà máy để cùng chia sẻ trách nhiệm.
Ba là, lộ trình đầu tư thích ứng: Ưu tiên tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc trước mắt, rà soát quy trình trọng yếu rồi mới từng bước đầu tư công nghệ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần bắt tay với hợp tác xã và doanh nghiệp đầu chuỗi để chia sẻ chi phí kiểm nghiệm, đào tạo và chứng nhận.

Cũng theo ông Hoàng Anh, dù nội lực doanh nghiệp Việt chuyển biến mạnh mẽ, song ngành tôm vẫn cần sự đồng hành kịp thời từ chính sách để hóa giải các điểm nghẽn thực tiễn. Trước hết là xung đột giữa tính mùa vụ và trần làm thêm giờ: con tôm thu hoạch rộ bắt buộc phải sơ chế, cấp đông trong 24 – 48 giờ để bảo đảm độ tươi, nhưng quy định trần 40 giờ/tháng hiện hành quá cứng nhắc, đẩy doanh nghiệp vào thế khó. Bên cạnh đó, làn sóng di cư và già hóa lao động tại ĐBSCL đòi hỏi phải đẩy mạnh tự động hóa và số hóa liên thông dữ liệu từ ao nuôi tới nhà xưởng.
“Chứng nhận có thể giúp doanh nghiệp mở cửa thị trường, nhưng chất lượng thực chất, tính minh bạch và uy tín mới giúp doanh nghiệp giữ được thị trường. Một khi con giống được chuẩn hóa từ gốc và trách nhiệm xã hội thấm sâu vào từng mắt xích chế biến, tấm “hộ chiếu xanh” sẽ mở rộng cánh cửa để ngành tôm Việt Nam phát triển bền vững và khẳng định vị thế vững chắc trên bản đồ xuất khẩu toàn cầu”, ông Hoàng Anh nhấn mạnh.
Bài và Ảnh: Hương Giang