Quản trị

Tối ưu chi phí dữ liệu ESG và truy xuất nguồn gốc

Quân Bảo • 02/10/2026 15:22

Doanh nghiệp có thể tận dụng dữ liệu truy xuất nguồn gốc làm đầu vào cho báo cáo ESG, qua đó giảm chi phí quản trị dữ liệu và tăng khả năng đáp ứng yêu cầu từ thị trường xuất khẩu.

Để tuân thủ yêu cầu truy xuất nguồn gốc và ESG, doanh nghiệp thường phải vận hành song song hai hệ thống dữ liệu: một phục vụ yêu cầu pháp lý về truy xuất nguồn gốc, một phục vụ báo cáo ESG. Theo bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC), cách vận hành tách rời có thể khiến dữ liệu bị phân mảnh, đồng thời làm tăng nguồn lực và chi phí đầu tư, vận hành hệ thống công nghệ. Yêu cầu kết nối dữ liệu ngày càng rõ hơn khi các doanh nghiệp thuộc 7 nhóm hàng xuất khẩu sang châu Âu và những nhóm hàng có rủi ro cao phải đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất và minh bạch thông tin.

bà Hồ Thị Quyên - PGĐ ITPC (1)
Bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc ITPC

Vấn đề còn nằm ở chất lượng dữ liệu. Tại hội thảo “Từ truy xuất nguồn gốc đến lợi thế ESG” tại TP HCM, ông Phạm Hải Nam, Quản lý kỹ thuật ESG Công ty SBP, nhận định việc doanh nghiệp chỉ cung cấp những thông tin sản xuất chung chung tạo ra giá trị thương mại thấp và chưa đủ cơ sở để chứng minh nguồn gốc sản phẩm với đối tác quốc tế.

Khi dữ liệu về nguyên liệu, vùng sản xuất, quy trình và phát thải không được thu thập đầy đủ, doanh nghiệp vừa khó hoàn thiện báo cáo ESG, vừa khó chứng minh năng lực đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo ông Phạm Hải Nam, các tập đoàn quốc tế đang gia tăng yêu cầu về dữ liệu từ nhà cung ứng và những đơn vị không đáp ứng được yêu cầu minh bạch có thể đối mặt với nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng.

Áp lực tuân thủ và áp lực thương mại

Sức ép này đang đến từ cả quy định pháp lý và yêu cầu của các nhà mua hàng quốc tế.

Bà Hồ Thị Quyên cho biết, Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp quy mô lớn và vừa, và từ ngày 30/06/2027 đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Theo đó, bảy nhóm hàng gồm gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, đậu nành và gia súc phải đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến lô đất sản xuất.

Yêu cầu về phát thải cũng đang đi sâu xuống chuỗi cung ứng. Ông Phạm Hải Nam cho biết các tập đoàn toàn cầu đặt mục tiêu giảm 95% phát thải Phạm vi 3 (Scope 3) đến năm 2030. Để tính toán lượng phát thải, nhà mua hàng cần dữ liệu về nguyên liệu, khối lượng, địa điểm sản xuất, phương tiện vận chuyển và quãng đường di chuyển.

Dữ liệu vì vậy không còn chỉ phục vụ mục tiêu tuân thủ. Chất lượng dữ liệu có thể tác động đến giá trị thương mại của sản phẩm. Ông Phạm Hải Nam đưa ra ví dụ về cà phê: một kilogram cà phê không chứng minh được nguồn gốc chỉ có thể bán với giá từ 200 đến 300 đồng/kg, trong khi một kilogram cà phê có dữ liệu truy xuất minh bạch, đạt chuẩn GlobalGAP, có thể đạt mức 1 triệu đồng/kg.

Theo ông, thông tin gắn với vùng trồng cụ thể như Buôn Ma Thuột cùng phương thức sản xuất đạt chuẩn hữu cơ hoặc GlobalGAP giúp người mua có thêm cơ sở đánh giá sản phẩm. Ngược lại, một tuyên bố chung như “Made in Vietnam” chỉ cho biết xuất xứ ở cấp độ rộng, chưa phản ánh được toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm.

Một nguyên nhân khiến doanh nghiệp chưa khai thác được giá trị này là cách tiếp cận dữ liệu còn mang tính ứng phó. Ông Đặng Bùi Khuê, nguyên Cố vấn cấp cao Công ty SBP, cho biết doanh nghiệp thường xem truy xuất nguồn gốc là nghĩa vụ với cơ quan quản lý và ESG được nhìn nhận chủ yếu như yêu cầu từ đối tác.

Khi hai hệ thống được vận hành riêng, cùng một thông tin có thể phải thu thập nhiều lần cho những mục đích khác nhau. Chi phí vì vậy tăng lên nhưng dữ liệu chưa chắc đầy đủ hơn. Trong khi đó, nếu dữ liệu truy xuất đã được thu thập nhưng chỉ sử dụng để đáp ứng yêu cầu pháp lý, doanh nghiệp bỏ qua một nguồn thông tin có thể phục vụ quản trị chuỗi cung ứng và chứng minh năng lực ESG.

Giải pháp “một công đôi việc”

Thay vì xây dựng hai hệ thống dữ liệu riêng cho truy xuất nguồn gốc và ESG, doanh nghiệp có thể thiết kế một hệ thống dùng chung ngay từ đầu. Theo ông Đặng Bùi Khuê, thông tin về vùng nguyên liệu, sản lượng, quy trình sản xuất, vận chuyển và nhà cung cấp nếu được thu thập đầy đủ có thể vừa phục vụ truy xuất, vừa trở thành dữ liệu đầu vào cho quản trị ESG.

Cách làm này có thể hiểu đơn giản là thu thập dữ liệu một lần nhưng sử dụng cho nhiều mục tiêu. Chẳng hạn, với một lô cà phê, thông tin về vùng trồng, hộ sản xuất, khối lượng, chứng nhận và quãng đường vận chuyển vừa giúp doanh nghiệp xác định nguồn gốc, vừa có thể dùng để tính lượng phát thải, đánh giá nhà cung cấp và truy tìm lô hàng khi xảy ra sự cố.

Theo ông Phạm Hải Nam, dữ liệu cần bảo đảm cả độ phủ và độ sâu. Độ phủ cho biết bao nhiêu phần trăm nguyên liệu đã được kiểm soát, còn độ sâu thể hiện mức độ chi tiết của thông tin, từ quốc gia, tỉnh, xã đến từng nông hộ. Dữ liệu càng đầy đủ và chi tiết, doanh nghiệp càng có cơ sở để xác minh nguồn nguyên liệu, đánh giá điều kiện sản xuất và đáp ứng yêu cầu của từng đối tác.

Khi dữ liệu được quản lý xuyên suốt, doanh nghiệp cũng dễ phát hiện những khoảng trống trong chuỗi cung ứng. Nếu 30% nguyên liệu chưa có đầy đủ thông tin, hệ thống có thể chỉ ra nhóm nhà cung cấp còn thiếu dữ liệu để doanh nghiệp hướng dẫn bổ sung, đào tạo hoặc hoàn thiện hồ sơ. Những thông tin này đồng thời có thể được đưa vào quản lý nhà cung cấp và các quy trình thẩm định tác động tiêu cực.

Các yêu cầu quốc tế về báo cáo bền vững và quản lý chuỗi cung ứng cũng đang đi theo hướng này: doanh nghiệp cần biết nguyên liệu đến từ đâu, được kiểm soát ở khâu nào, bên nào chịu trách nhiệm về dữ liệu và thông tin được chuyển giao ra sao trong chuỗi. Với ngành nông nghiệp, yêu cầu truy xuất còn gắn với điều kiện sản xuất, từ quy trình, công nghệ đến các vấn đề về con người. Vì vậy, nếu những thông tin này đã được chuẩn hóa trong hệ thống truy xuất, doanh nghiệp có thể tiếp tục sử dụng cho ESG thay vì thu thập lại.

Ở cấp độ kỹ thuật, ông Đặng Bùi Khuê cho biết dữ liệu truy xuất theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, đối tượng áp dụng và yêu cầu đối với hệ thống truy xuất và mã truy vết theo Tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam về Truy xuất nguồn gốc – Hướng dẫn định dạng mã dùng cho truy vết (TCVN 13274) có thể được chuẩn hóa ngay trong hệ thống. Khi cấu trúc dữ liệu thống nhất, thông tin về nguyên liệu, khối lượng và vận chuyển có thể dùng để tính phát thải Scope 3; dữ liệu nhà cung cấp phục vụ đánh giá các yếu tố môi trường, xã hội; còn thông tin theo từng lô hàng hỗ trợ truy tìm và thu hồi sản phẩm khi cần.

Như vậy, giải pháp không ở việc xây thêm một hệ thống ESG bên cạnh hệ thống truy xuất. Doanh nghiệp có thể thiết kế hệ thống truy xuất ngay từ đầu theo hướng dữ liệu được chuẩn hóa và tái sử dụng cho nhiều nhu cầu. Một lần thu thập thông tin từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng có thể tạo ra dữ liệu phục vụ đồng thời yêu cầu tuân thủ, quản trị chuỗi cung ứng, tính phát thải và chứng minh nguồn gốc với đối tác quốc tế.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Tối ưu chi phí dữ liệu ESG và truy xuất nguồn gốc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO