Với những yêu cầu mới, thực hiện ESG trong doanh nghiệp đang chuyển từ cam kết giảm phát thải sang triển khai theo lộ trình chiến lược và lượng hoá dữ liệu.
Những quy định mới về giảm phát thải từ thị trường nước ngoài và thị trường trong nước ngày càng nghiêm ngặt hơn. Không chỉ cam kết giảm phát thải, doanh nghiệp còn phải đo lường, tính toán lượng phát thải, xây dựng kế hoạch cắt giảm theo tiến độ và nguồn lực.
Thông tin cụ thể, ông Nguyễn Huỳnh Thanh Phong - Giám đốc Phát triển bền vững của Bureau Veritas Việt Nam cho biết: Ở trong nước là các quy định về kiểm kê phát thải khí nhà kính, cơ chế EPR - trách nhiệm nhà sản xuất mở rộng yêu cầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm với bao bì sản phẩm từ sản xuất đến thu hồi, tái chế. Các doanh nghiệp thực hiện báo cáo ESG tập trung hơn vào quản lý chất thải, kiểm kê phát thải.

Trên thị trường quốc tế, nhiều cơ chế ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu. Đáng chú ý là quy định về thiết kế sản phẩm sinh thái của EU, chỉ thị về báo cáo phát triển bền vững tập trung vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, các tập đoàn, công ty lớn toàn cầu đã xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Việc giảm phát thải không chỉ dừng ở doanh nghiệp sản xuất mà mở rộng ra phạm vi 3 - toàn bộ chuỗi cung ứng cả thượng nguồn và hạ nguồn. Theo ông Nguyễn Huỳnh Thanh Phong, đây là một trong những lý do doanh nghiệp cân nhắc kiểm soát phát thải ở góc nhìn rộng hơn trong chuỗi cung ứng, thay vì chỉ kiểm soát tại cơ sở của mình.
Giám đốc Phát triển bền vững của Bureau Veritas Việt Nam cũng lưu ý thêm một số yêu cầu khác liên quan như năng lượng, sử dụng khoáng sản có trách nhiệm, tồn dư hóa chất trong sản phẩm.
Trước những yêu cầu trên, doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển dịch thực hiện và bước đầu tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế. Theo nhận định của ông Nguyễn Huỳnh Thanh Phong, đa phần doanh nghiệp trong phạm vi phải thực hiện đã có chiến lược, hành động cụ thể.
Tuy nhiên, để viết thành câu chuyện ESG cho mình và đưa đến khách hàng thì còn hạn chế. Một số yêu cầu của chuỗi cung ứng như quản lý hóa chất độc hại, có doanh nghiệp đã thực hiện nhưng chưa sử dụng giấy chứng nhận của các bên đánh giá để công khai thông tin ra ngoài…
Trong bối cảnh mới với những quy định cao hơn về ESG, ông Nguyễn Huỳnh Thanh Phong cho rằng, doanh nghiệp cân nhắc xây dựng hệ thống quản lý ESG hiệu quả hơn, được trao quyền ra những quyết định quan trọng đối với tổ chức. Hiện nay, tại không ít doanh nghiệp, bộ phận quản lý môi trường hay ISO đang chịu trách nhiệm thực hiện báo cáo phát triển bền vững.

Một thực tế khác, đa phần dữ liệu sản xuất của doanh nghiệp thường được kiểm soát rất tốt. Thế nhưng, việc sử dụng dữ liệu đó như thế nào, có hiệu quả hay không, đúng mục tiêu báo cáo hay không… lại là vấn đề nhiều doanh nghiệp chưa nhìn ra được.
Do vậy, cần kiểm soát lại hệ thống dữ liệu sản xuất trong tổ chức, trong đó chỉ rõ chỉ số cần tập trung, chỉ số cần minh bạch hay các bằng chứng dữ liệu trong quá trình kiểm kê.
Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Phong gợi mở thêm, hiện có nhiều khung tiêu chuẩn quốc tế về ESG mà doanh nghiệp có thể cân nhắc áp dụng vừa có thể đáp ứng yêu cầu trong nước vừa đáp ứng yêu cầu quốc tế. Ngoài ra, không nên tập trung vào yêu cầu của khách hàng cụ thể, của một thị trường. Khi thực hiện ESG, giảm phát thải trở thành xu hướng chung của toàn cầu, doanh nghiệp cần nhìn nhận vấn đề này trên quy mô thị trường quốc tế rộng lớn hơn với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
Thay vì tiếp cận một khách hàng đơn lẻ, doanh nghiệp nên đi theo chuỗi và yêu cầu phổ quát của toàn thị trường. Điều này sẽ đảm bảo đầu ra tốt hơn và linh hoạt hơn trong giao thương cho doanh nghiệp trong tương lai.
Trước đây, một trong những yếu tố quan trọng của chuỗi cung ứng là kiểm soát về chất lượng, giá cả, dịch vụ, hậu mãi. Hiện nay, nguồn dữ liệu minh bạch đã trở thành một trong những chỉ tiêu quan trọng.
Với vai trò quan trọng như vậy, việc quản lý dữ liệu cần chuyển từ thủ công sang số hóa để hệ thống dữ liệu có thể kết hợp cho nhiều tiêu chuẩn, nhiều yêu cầu của thị trường. Trong quá trình kiểm soát, không thể nào bỏ qua được kiểm soát chất lượng nội bộ thông qua các đánh giá nội bộ, quy trình giám sát chất lượng riêng cho từng phòng ban.