Những chiếc bình chữa cháy mang mầm họa
Vụ hơn 1,2 triệu bình chữa cháy giả bị phát hiện đặt ra câu hỏi nhức nhối về trách nhiệm kiểm định, khi những thiết bị được kỳ vọng bảo vệ tính mạng lại tiềm ẩn nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng…
Một chiếc bình chữa cháy được trang bị trong nhà xưởng, cơ sở kinh doanh hay mỗi gia đình vốn là phương tiện ứng phó khi hỏa hoạn. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu thiết bị ấy không thể dập tắt đám cháy? Đáng lo ngại hơn, nếu sản phẩm không bảo đảm chất lượng vẫn vượt qua khâu kiểm định, người sử dụng sẽ dựa vào đâu để nhận biết nguy cơ?
Những câu hỏi ấy được đặt ra từ vụ án liên quan đến hơn 1,2 triệu bình chữa cháy giả nhãn hiệu Dragon, vừa được cơ quan tố tụng tại Hà Nội hoàn tất cáo trạng truy tố các bị can về những hành vi liên quan đến sản xuất, buôn bán hàng giả, nhận hối lộ và giả mạo trong công tác.

Theo cáo trạng, hơn 1,27 triệu bình bột chữa cháy bị xác định là hàng giả đã được sản xuất, tiêu thụ. Để những sản phẩm không bảo đảm chất lượng được kiểm định đạt yêu cầu, người điều hành doanh nghiệp bị cáo buộc chi hơn 17 tỷ đồng hối lộ cho những người liên quan đến hoạt động kiểm định.
Đáng chú ý, khoản tiền chi ngoài hợp đồng được thỏa thuận theo số lượng sản phẩm, với mức 8.000 đồng mỗi bình trong một giai đoạn, sau đó tăng lên 10.000 đồng. Theo cáo buộc, việc lấy mẫu, kiểm định đã không được thực hiện đúng quy định, khiến những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu vẫn có kết quả kiểm định đạt chất lượng.
Một sản phẩm giả thông thường có thể khiến người mua thiệt hại về kinh tế. Nhưng bình chữa cháy giả còn tiềm ẩn hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều. Trong tình huống hỏa hoạn, thời gian xử lý đám cháy ban đầu thường rất ngắn. Nếu thiết bị không phát huy tác dụng, cơ hội khống chế ngọn lửa có thể bị bỏ lỡ, đe dọa trực tiếp đến tính mạng và tài sản.
Điều đáng nói, người mua khó có điều kiện tự kiểm tra chất lượng bên trong mỗi bình chữa cháy. Họ chủ yếu dựa vào nhãn mác, nguồn gốc sản phẩm, hồ sơ chất lượng và các dấu hiệu chứng nhận theo quy định. Bởi vậy, khi hoạt động kiểm định bị làm sai lệch, cơ chế bảo đảm an toàn có nguy cơ mất đi ý nghĩa vốn có.
Vấn đề đặt ra không chỉ là trách nhiệm của những người sản xuất, kinh doanh hàng giả, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kiểm định.
Về nguyên tắc, kiểm định phải là khâu đánh giá khách quan nhằm xác định sản phẩm có đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hay không. Nếu kết quả kiểm định có thể bị tác động bởi lợi ích vật chất, hàng giả không những không bị ngăn chặn mà còn có thêm điều kiện tiếp cận thị trường.
Đáng chú ý, hồ sơ vụ án còn đề cập đến dấu hiệu giả mạo kết quả hiệu chuẩn đối với máy móc, thiết bị phục vụ kiểm định. Điều này cho thấy yêu cầu giám sát không thể chỉ dừng ở kết quả cuối cùng, mà cần bao quát cả quy trình lấy mẫu, thử nghiệm, hiệu chuẩn thiết bị và trách nhiệm của người thực hiện.
Một giấy chứng nhận chỉ thực sự có giá trị khi được bảo đảm bằng quy trình đánh giá nghiêm túc, minh bạch và có khả năng kiểm tra, đối chiếu. Nếu quy trình ấy bị làm sai lệch, con dấu hay giấy tờ không thể thay thế cho chất lượng thực tế của sản phẩm.

Ở góc độ môi trường kinh doanh, việc hàng giả có thể vượt qua khâu kiểm định còn tạo ra sự bất bình đẳng đối với các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Những đơn vị đầu tư nguyên liệu đạt chuẩn, tuân thủ quy trình sản xuất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kiểm định phải gánh chi phí thực chất, trong khi sản phẩm giả có thể được bán ra với lợi thế từ việc cắt giảm chất lượng.
Hệ quả không chỉ là cạnh tranh thiếu lành mạnh mà còn là sự suy giảm niềm tin vào hoạt động chứng nhận chất lượng. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng không thể yên tâm về kết quả kiểm định, uy tín của cả những đơn vị thực hiện nghiêm túc cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng.
Trao đổi về vụ việc này, Luật sư Tạ Anh Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH Tạ Anh Tuấn cho rằng, đối với những sản phẩm có chức năng bảo vệ tính mạng, tài sản như thiết bị phòng cháy, chữa cháy, việc sản xuất, kinh doanh hàng giả và làm sai lệch kết quả kiểm định phải được xem xét trách nhiệm pháp lý tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả thực tế.
“Không thể để giấy chứng nhận kiểm định trở thành tấm bình phong cho những sản phẩm không bảo đảm chất lượng. Cần làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong quá trình sản xuất, lấy mẫu, kiểm định và đưa sản phẩm ra thị trường. Khi phát hiện dấu hiệu kiểm định sai quy định, phải kịp thời xác định những lô hàng liên quan để kiểm tra, cảnh báo và xử lý theo pháp luật, không để nguy cơ tiếp tục tồn tại trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu dân cư”, luật sư nhấn mạnh.
Theo Luật sư Tạ Anh Tuấn, cùng với việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với những cá nhân có hành vi phạm tội, cần xác định rõ nghĩa vụ thu hồi sản phẩm, khắc phục hậu quả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có đủ căn cứ pháp luật. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra chéo, giám sát hoạt động kiểm định và hiệu chuẩn thiết bị, bảo đảm những sai phạm có thể được phát hiện trước khi sản phẩm đến tay người sử dụng.
“Điều nguy hiểm nhất của một chiếc bình chữa cháy giả không chỉ nằm ở chất lượng không bảo đảm, mà còn ở cảm giác an toàn mà nó tạo ra. Người sử dụng có thể tin rằng mình đã được bảo vệ, cho đến khi ngọn lửa bùng lên và thiết bị được kỳ vọng cứu nguy lại không phát huy tác dụng”, Luật sư Tuấn nói.
Nguyễn Giang