diendandoanhnghiep.vn

Nghiên cứu - Trao đổi

Minh bạch dữ liệu để ngăn trục lợi ưu đãi đấu thầu

Yến Nhung thực hiện

Ưu đãi mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cần đi kèm cơ chế kiểm soát chặt chẽ, liên thông dữ liệu và chế tài đủ mạnh để ngăn gian lận, bảo đảm cơ hội đến đúng đối tượng mà không phát sinh thêm gánh nặng thủ tục.

phan hoai nam
TS Phan Hoài Nam, Tổng Giám đốc Hãng Tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC

Đây là chia sẻ của TS Phan Hoài Nam, Tổng Giám đốc Hãng Tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC với Diễn đàn Doanh nghiệp.

- Ông đánh giá như thế nào về đề xuất dành tỷ lệ ưu tiên cho DNNVV trong mua sắm công tại Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Tôi cho rằng, mua sắm công là công cụ quan trọng để tạo đầu ra thực chất cho DNNVV, không chỉ mang lại doanh thu mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, tiếp cận vốn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Mỹ dành mục tiêu tối thiểu 23% giá trị hợp đồng thầu chính liên bang cho doanh nghiệp nhỏ, trong khi Hàn Quốc đặt mục tiêu ít nhất 50% giá trị mua sắm công hằng năm cho DNNVV. Vì vậy, đề xuất dành tối thiểu 20% tổng giá trị mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước cho khu vực này có cơ sở tham chiếu.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa mục tiêu hỗ trợ và hạn ngạch bắt buộc. Nếu áp dụng cứng nhắc, chính sách có thể dẫn đến tình trạng gói thầu không có nhà cung cấp phù hợp, phải đấu thầu lại, thậm chí làm giảm cạnh tranh. Thực tế triển khai ưu đãi theo Nghị quyết 198/2025/QH15 đã xuất hiện những trường hợp chỉ có một nhà thầu tham dự, phải hủy và tổ chức đấu thầu lại.

Bên cạnh đó, cần quy định rõ cách tính tỷ lệ 20%, tránh tình trạng chỉ cần dành gói thầu cho DNNVV tham gia là đạt chỉ tiêu, bất kể kết quả lựa chọn nhà thầu. Đồng thời, chính sách phải đồng bộ với Luật Đấu thầu, Nghị quyết 198/2025/QH15 và các cam kết quốc tế về mua sắm chính phủ.

Vấn đề cốt lõi không phải chỉ là dành bao nhiêu phần trăm, mà là thiết kế cơ chế thế nào để DNNVV có năng lực thực sự tiếp cận được cơ hội, trong khi vẫn bảo đảm cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

- Theo ông, cơ chế dành tỷ lệ ưu tiên cho DNNVV nên được thiết kế như thế nào để tạo cơ hội tiếp cận thị trường mà không làm giảm tính cạnh tranh?

Thứ nhất, cần xác định 20% là mục tiêu cấp hệ thống, không phải hạn ngạch cứng cho từng gói thầu. Chỉ tiêu nên giao cho từng bộ, ngành, địa phương theo năm, kèm cơ chế “tuân thủ hoặc giải trình”. Việc lựa chọn gói thầu phải dựa trên khả năng cung ứng của thị trường, không chạy theo thành tích.

Thứ hai, tỷ lệ phải được tính trên giá trị hợp đồng thực tế được giao và công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, thay vì chỉ tính số gói thầu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia. Cần quy định rõ phạm vi tính toán và phần giá trị doanh nghiệp trực tiếp thực hiện để tránh hình thức.

Thứ ba, chỉ dành riêng gói thầu khi có đủ cơ sở về cạnh tranh. Mỹ áp dụng nguyên tắc có ít nhất hai doanh nghiệp nhỏ độc lập có khả năng chào giá hợp lý. Việt Nam cũng nên yêu cầu khảo sát thị trường trước khi quyết định dành riêng, tận dụng dữ liệu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Thứ tư, nếu không có DNNVV đáp ứng yêu cầu, cần có cơ chế chuyển sang xét hồ sơ của các nhà thầu khác ngay trong cùng quy trình, thay vì hủy thầu và tổ chức lại từ đầu. Cách làm này giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và bảo đảm cạnh tranh.

Thứ năm, cần tháo gỡ các rào cản thực chất như yêu cầu kinh nghiệm, doanh thu, bảo đảm dự thầu quá cao và tình trạng chậm thanh toán. Có thể nghiên cứu điều chỉnh mức bảo đảm phù hợp, phát huy vai trò của quỹ bảo lãnh tín dụng, tăng tạm ứng và quy định thời hạn thanh toán rõ ràng, kèm lãi chậm trả.

Cuối cùng, chính sách cần được đánh giá lại sau ba năm dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ thực hiện, mức tiết kiệm ngân sách, số doanh nghiệp nhỏ lần đầu trúng thầu và khả năng phát triển quy mô. Ưu đãi mua sắm công phải là bệ phóng giúp doanh nghiệp trưởng thành, chứ không phải cơ chế bảo hộ kéo dài.

2(1).jpg
Mua sắm công là công cụ quan trọng để tạo đầu ra thực chất cho DNNVV, không chỉ mang lại doanh thu mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, tiếp cận vốn. Ảnh minh họa

- Có nên phân chia các gói thầu lớn thành những phần phù hợp hơn với năng lực doanh nghiệp nhỏ, thay vì áp dụng một tỷ lệ ưu tiên chung không, thưa ông?

Theo tôi, đây là công cụ hiệu quả để mở rộng cơ hội cho DNNVV. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ “phân lô” với “chia nhỏ gói thầu”. Chia nhỏ dự án nhằm chỉ định thầu là hành vi bị Luật Đấu thầu nghiêm cấm, trong khi phân lô vẫn bảo đảm đấu thầu công khai, cạnh tranh nhưng chia thành các phần phù hợp với năng lực của doanh nghiệp.

Pháp luật Việt Nam đã có quy định về gói thầu chia thành nhiều phần, nhưng chưa đặt ra yêu cầu bắt buộc phải xem xét phương án này. Trong khi đó, Liên minh châu Âu yêu cầu bên mời thầu cân nhắc phân lô và nêu lý do nếu không thực hiện.

Theo tôi, cần bắt buộc xem xét phân lô đối với các gói thầu đủ điều kiện; xác định yêu cầu năng lực, kinh nghiệm theo từng lô thay vì toàn bộ gói thầu; đồng thời cân nhắc giới hạn số lô một nhà thầu được nhận để tránh doanh nghiệp lớn thâu tóm toàn bộ. Đặc biệt, mua sắm tập trung và thỏa thuận khung cần được thiết kế phù hợp, tránh gom các nhu cầu quá lớn khiến doanh nghiệp nhỏ không thể tham gia.

Với những gói thầu không thể phân lô do yêu cầu kỹ thuật, có thể khuyến khích nhà thầu sử dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa làm thầu phụ, gắn ưu đãi với cam kết thực hiện và cơ chế giám sát thanh toán.

- Theo ông, cần cơ chế giám sát nào để tránh tình trạng doanh nghiệp chỉ đứng tên hưởng ưu tiên nhưng thực tế không trực tiếp thực hiện hợp đồng?

Đây là rủi ro lớn nhất của chính sách ưu đãi, nhất là nguy cơ chia nhỏ gói thầu hoặc lập doanh nghiệp “bình phong” để hưởng lợi. Giải pháp không phải tăng hồ sơ giấy tờ, mà là liên thông dữ liệu và áp dụng chế tài đủ mạnh.

Trước hết, cần xác định đúng ai là doanh nghiệp nhỏ, xác định quy mô doanh nghiệp dựa trên dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội, đồng thời tính đến các doanh nghiệp có quan hệ liên kết, cùng chủ sở hữu hoặc người kiểm soát để ngăn tình trạng doanh nghiệp lớn thành lập nhiều công ty nhỏ nhằm hưởng ưu đãi.

Thứ hai, cần quy định tỷ lệ tối thiểu doanh nghiệp trúng thầu phải trực tiếp thực hiện hợp đồng, hạn chế chuyển phần việc chính cho nhà thầu không thuộc diện ưu đãi. Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy có thể đặt giới hạn đối với giá trị hợp đồng được giao cho các nhà thầu phụ không cùng diện ưu đãi.

Thứ ba, cần theo dõi dòng tiền và quá trình thực hiện hợp đồng thông qua hóa đơn điện tử, dữ liệu thanh toán; công khai thông tin về thầu phụ, giá trị giao thầu phụ và tiến độ thanh toán trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để tăng cường giám sát.

Cuối cùng, phải xử lý nghiêm doanh nghiệp gian lận, thông đồng hoặc lợi dụng ưu đãi, đồng thời quy trách nhiệm cho chủ đầu tư nếu cố tình làm ngơ.

Tuy nhiên, việc giám sát không được tạo thêm gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp nhỏ. Nguyên tắc cần hướng tới là “dữ liệu chạy, doanh nghiệp không chạy”: ưu tiên tự động đối chiếu dữ liệu, chỉ kiểm tra trực tiếp những trường hợp có dấu hiệu rủi ro.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Yến Nhung thực hiện