Bắc Ninh nâng vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Ngày 04/11, dưới sự chỉ đạo của VCCI, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Ban Tổ chức Triển lãm Công nghiệp và Sản xuất Việt Nam tổ chức Diễn đàn Công nghiệp Bắc Ninh 2026, với chủ đề “Kiến tạo trung tâm chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu”.
Từ nền tảng sản xuất điện tử quy mô lớn, Bắc Ninh đang từng bước khẳng định vị thế trong hệ sinh thái công nghiệp phía Bắc khi mở rộng sang lĩnh vực bán dẫn, hướng tới nâng cao giá trị trong chuỗi sản xuất công nghệ cao.
Tuy nhiên, trong làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, thách thức đặt ra không chỉ là thu hút thêm những nhà máy tỷ USD, mà còn là nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, gia tăng giá trị và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế.

Nền tảng sản xuất mở rộng
Bản đồ sản xuất thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc chưa từng có. Dưới áp lực của các xu hướng bảo hộ thương mại, bất ổn địa chính trị và cuộc đua công nghệ vũ bão, các tập đoàn đa quốc gia buộc phải rà soát, tái cấu trúc toàn diện chiến lược đầu tư và tổ chức chuỗi cung ứng.
Trong cuộc sàng lọc khắt khe ấy, sức hấp dẫn của một điểm đến đầu tư không còn đơn thuần được đo đếm bằng làn sóng ưu đãi thuế hay nguồn nhân lực chi phí thấp. Thay vào đó, dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ về những hệ sinh thái công nghiệp có hạ tầng đồng bộ, năng lực logistics hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng thích ứng linh hoạt với các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Bắc Ninh đang sở hữu những nền tảng đáng chú ý để đón nhận cơ hội này. Trong nhiều năm, công nghiệp điện tử với sự hiện diện của các tập đoàn lớn và mạng lưới doanh nghiệp cung ứng linh kiện, thiết bị đã trở thành trụ cột sản xuất, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của TP Bắc Ninh.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của thành phố trong 9 tháng đầu năm 2026 ước tăng 20,16%, trong khi giá trị sản xuất công nghiệp đạt tới 2,39 triệu tỷ đồng. Sự hiện diện của các “sếu đầu đàn” công nghệ toàn cầu như Samsung, Foxconn, Amkor hay Hana Micron đã định hình rõ nét vị thế của địa phương trên bản đồ công nghệ khu vực.
Tuy nhiên, bài toán đặt ra cho một trung tâm công nghiệp năng động không chỉ dừng lại ở những con số thống kê hay quy mô thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Theo ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh, trong giai đoạn 2026-2030, định hướng chiến lược của địa phương là phát triển công nghiệp theo chiều sâu, chuyển đổi từ gia công đơn giản sang sản xuất có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
“Tuy nhiên, lợi thế về quy mô sản xuất cần được chuyển hóa thành năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng cao hơn”, ông Phạm Văn Thịnh nhấn mạnh.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, việc kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh có ý nghĩa quyết định. Nhìn nhận từ góc độ hạ tầng và logistics, ông Đinh Hoài Nam, Giám đốc Cấp Cao Phát triển Kinh doanh & Thương mại SLP Việt Nam, cho rằng vị trí địa lý hay ưu đãi chỉ là bước khởi điểm để thu hút sự chú ý của nhà đầu tư. Trong chuỗi cung ứng hiện đại, nhà kho không đơn thuần là nơi lưu trữ hàng hóa mà đã trở thành điểm điều phối dòng chảy giao thương.
“Bắc Ninh đã có nền tảng mà nhiều địa phương mong muốn, nhưng bước tiếp theo là chuyển từ một trung tâm sản xuất thành một trung tâm điều phối chuỗi cung ứng của miền Bắc. Muốn vậy, khu sản xuất, kho vận, cảng biển và cửa khẩu cần được quy hoạch như một hệ thống thống nhất để hàng hóa di chuyển nhanh và ổn định”, ông Đinh Hoài Nam phân tích.
Ngày 04/11/2026, tại Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, dưới sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Ban Tổ chức Triển lãm Công nghiệp và Sản xuất Việt Nam (VIMF Bắc Ninh 2026) tổ chức Diễn đàn Công nghiệp Bắc Ninh 2026, với chủ đề “Kiến tạo trung tâm chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu”.
Kiến tạo chuỗi giá trị
Theo các số liệu, TP Bắc Ninh đã quy hoạch 72 khu công nghiệp đến năm 2030 với tổng diện tích 21.519 ha. Trong đó, 39 khu công nghiệp đã được chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng diện tích 11.903 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 52%. Ngoài ra, TP Bắc Ninh hiện có 101 cụm công nghiệp được thành lập với tổng diện tích 4.113 ha, góp phần bổ sung quỹ đất phát triển sản xuất, thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn.
Tuy nhiên, để chuyển lợi thế về mặt bằng và quy mô đầu tư thành năng lực cạnh tranh dài hạn, Bắc Ninh cần chú trọng hơn đến chất lượng của hệ sinh thái công nghiệp, đặc biệt là mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nội địa, cơ sở đào tạo và các tổ chức nghiên cứu.
Thực tiễn phát triển cũng chỉ ra những khoảng trống cần khẩn trương khỏa lấp. Dù sở hữu quỹ đất công nghiệp quy mô với hàng chục khu và cụm công nghiệp được quy hoạch, hoạt động sản xuất trên địa bàn phần lớn vẫn tập trung ở các công đoạn đóng gói, kiểm thử hoặc gia công linh kiện phụ trợ. Các công đoạn cốt lõi như thiết kế chip, nghiên cứu phát triển (R&D) hay chế tạo wafer chưa hình thành rõ nét. Khoảng cách này đòi hỏi sự chuyển dịch tư duy từ thu hút các dự án đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái hỗ trợ chiều sâu.
Đồng quan điểm từ góc độ doanh nghiệp nội địa, bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Công nghệ mới Hanel PT kiêm Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp Bắc Ninh (BACLINK), chỉ rõ rào cản lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nằm ở vốn hay công nghệ, mà là khoảng cách về năng lực quản trị và chuẩn mực quốc tế.
Nhận thức rõ yêu cầu khách quan đó, ngành Công Thương và chính quyền Bắc Ninh đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp căn cơ. Ông Nguyễn Minh Hiếu, Giám đốc Sở Công Thương Bắc Ninh, khẳng định nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn tới là nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thông qua việc hỗ trợ cải tiến công nghệ, hoàn thiện hệ thống quản lý và gắn kết chặt chẽ với hoạt động xúc tiến cung - cầu. Thông qua Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ có từ 700 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hoạt động trong các ngành ưu tiên, với khoảng 60% doanh nghiệp nội địa đạt chuẩn quốc tế và trở thành nhà cung cấp chính thức cho các tập đoàn lớn.
Hành trình nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu của Bắc Ninh không chỉ là câu chuyện thu hút thêm những dự án tỷ USD, mà là thước đo về năng lực tự chủ, hàm lượng trí tuệ và giá trị gia tăng nội sinh.
Ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh: Hướng tới trung tâm chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu

Trong giai đoạn 2026-2030, thành phố ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử, bán dẫn; cơ khí chế tạo, tự động hóa; sản xuất, lắp ráp ô tô, đặc biệt là ô tô điện và phương tiện thông minh. Quan điểm xuyên suốt của Bắc Ninh là thu hút đầu tư có chọn lọc, chú trọng công nghệ hiện đại, hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thành phố xác định ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành điện tử bán dẫn, phát triển hạ tầng đồng bộ và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nội địa. Cùng với cải cách thủ tục hành chính, thành phố chú trọng xây dựng chuyển đổi số, sản xuất xanh và thông minh trong xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số.
Một nhiệm vụ then chốt là kết nối doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước với các tập đoàn đa quốc gia thông qua hoạt động kết nối cung – cầu, hỗ trợ cải tiến sản xuất, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật. Qua đó, doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội trở thành nhà cung cấp trong chuỗi sản xuất của các tập đoàn lớn.
Theo Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2035, Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 700 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trở lên hoạt động trong các ngành ưu tiên; khoảng 60% doanh nghiệp nội địa đạt tiêu chuẩn quản lý quốc tế và trở thành nhà cung cấp chính thức cho các tập đoàn lớn.
Bà Trần Thị Thu Trang - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Công nghệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp Bắc Ninh (BACLINK): Khẳng định vị trí doanh nghiệp Việt

Từ thực tiễn hoạt động của Hanel PT trong lĩnh vực sản xuất điện tử, PCBA và thiết bị bán dẫn, tôi nhận thấy rào cản lớn nhất không đơn thuần nằm ở vốn, công nghệ hay quy mô, mà ở khoảng cách giữa năng lực doanh nghiệp đang có và những yêu cầu thực tế của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo tôi, có ba khoảng cách cần được tập trung giải quyết. Đó là khoảng cách về năng lực quản trị và tiêu chuẩn, khoảng cách về thông tin và cơ hội tiếp cận, khoảng cách về tư duy và vị trí trong chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, phát triển chuỗi cung ứng nội địa không thể chỉ là trách nhiệm của riêng doanh nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng cần tăng cường hợp tác thực chất giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Các tập đoàn đầu chuỗi cần chia sẻ yêu cầu kỹ thuật, định hướng nhu cầu mua hàng và đồng hành nâng cấp năng lực cho nhà cung ứng nội địa.
Chúng ta cần chuyển từ tư duy thu hút đầu tư sang tư duy kiến tạo chuỗi giá trị. Bởi một nền công nghiệp mạnh không chỉ được đo bằng số lượng nhà máy hiện đại hiện diện tại Việt Nam, mà còn bằng năng lực của doanh nghiệp trong nước trong việc tham gia, phát triển và từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Đinh Hoài Nam - Giám đốc cấp cao, Phát triển Kinh doanh & Thương mại, SLP Việt Nam: Logistics hiện đại là lợi thế cạnh tranh của trung tâm công nghiệp thế hệ mới

Trong chuỗi cung ứng hiện đại, nhà kho không còn là nơi hàng hóa dừng lại, mà là nơi dòng chảy hàng hóa được điều phối. Vị trí giúp Bắc Ninh được nhà đầu tư chú ý, nhưng để giữ chân họ lâu dài thì cần một hệ sinh thái đủ mạnh. Bắc Ninh đã có cộng đồng nhà sản xuất toàn cầu, mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và khả năng kết nối với Hà Nội, sân bay Nội Bài, cảng Hải Phòng cùng các cửa khẩu phía Bắc. Năm 2025, tỉnh đứng thứ ba cả nước về thu hút FDI, với 18,5 tỷ USD vốn đăng ký.
Tuy nhiên, để chuyển từ một trung tâm sản xuất thành một trung tâm điều phối chuỗi cung ứng của miền Bắc, khu sản xuất, kho vận, cảng biển, sân bay và cửa khẩu cần được quy hoạch như một hệ thống thống nhất để hàng hóa di chuyển nhanh và ổn định. Khi dòng vốn chuyển dịch sang điện tử, bán dẫn và các ngành giá trị cao hơn, hạ tầng cũng phải được nâng lên chuẩn quốc tế tương ứng.
Một yếu tố quan trọng không kém là rút ngắn thời gian từ quyết định đầu tư đến vận hành. Hạ tầng sẵn sàng, thủ tục minh bạch và sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, chủ đầu tư và doanh nghiệp sẽ tạo nên lợi thế khó sao chép. Cuộc đua thu hút FDI giai đoạn tới không chỉ là cạnh tranh về quỹ đất hay chi phí, mà là cạnh tranh về tốc độ và độ tin cậy của cả hệ sinh thái.
Duyên Ngân Chuẩn