Cân nhắc làm rõ cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển
Đánh giá cao những tiếp thu, chỉnh lý của cơ quan soạn thảo, tuy nhiên, để hoàn thiện, một số ý kiến cho rằng, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) cần cân nhắc làm rõ cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển.
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng với bố cục gồm 6 chương, 76 điều, giảm 4 chương và 5 điều so với luật hiện hành năm 2015 nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Bên cạnh đó, việc sửa đổi luật còn đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn công tác bảo vệ môi trường, yêu cầu phát triển kinh tế biển, quản lý không gian biển, yêu cầu của hội nhập quốc tế qua đó tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội…

Đánh giá cao những tiếp thu, chỉnh lý của cơ quan soạn thảo, tuy nhiên, để hoàn thiện, một số ý kiến cho rằng, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) cần cân nhắc làm rõ cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển.
Tham gia góp ý, đánh giá cao việc Dự thảo đã tiếp thu nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện quản lý tổng hợp không gian biển, thúc đẩy kinh tế biển đi đôi với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đại biểu Dương Khắc Mai, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng, khoản 1, Điều 7 đã giao Chính phủ xác định cơ quan cấp bộ làm đầu mối; khoản 2 khẳng định điều phối không thay thế thẩm quyền chuyên ngành; khoản 5 phân định trách nhiệm của cơ quan chủ trì, phối hợp và yêu cầu báo cáo khi có ý kiến khác nhau. Đây là những chỉnh lý phù hợp với kiến nghị của đại biểu đã được giải trình.
Tuy nhiên, khoản 5 mới xác định trách nhiệm chung mà chưa quy định nguyên tắc về thời hạn trả lời, thời điểm chuyển cấp xử lý bất đồng và công khai kết quả.
Đại biểu đề nghị, bổ sung ngay tại khoản 5 nguyên tắc cơ quan phối hợp phải phản hồi trong thời hạn xác định; cơ quan chủ trì công khai tình trạng xử lý, có trách nhiệm chuyển cấp có thẩm quyền khi quá thời hạn hoặc còn ý kiến khác nhau; giao Chính phủ quy định thời hạn, quy trình điện tử liên thông tại khoản 6.

“Đặc biệt, dự án năng lượng ngoài khơi hoặc hạ tầng biển liên tỉnh cần có một đầu mối theo dõi đến kết quả cuối cùng, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ trách nhiệm giải quyết”, đại biểu góp ý.
Tham gia góp ý, đại biểu Lê Hữu Trí, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa đề nghị, cần làm rõ cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển.
Theo đại biểu, Điều 6 và Điều 7, dự thảo xác định Chính phủ thống nhất quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế điều phối, phối hợp tập trung, liên ngành, tuy nhiên, nếu chỉ quy định phối hợp mà không xác định rõ trách nhiệm quyết định, trách nhiệm giải trình và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm một tầng nấc hành chính.
Cùng với vấn đề đã nêu, đại biểu cũng cho biết, Điều 22 dự thảo quy định trách nhiệm quản lý không gian biển của cấp tỉnh, cấp xã có biển; vùng biển nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển của cấp tỉnh là vùng biển chung do cấp trung ương quản lý. Trong khi đó, Điều 6 đặt ra trách nhiệm quản lý cho nhiều cấp, nhiều ngành.
Góp ý nội dung này, đại biểu đề nghị quy định rõ cơ quan đầu mối, thẩm quyền xử lý cuối cùng đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng, phân định cụ thể trách nhiệm giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Đồng thời, bảo đảm việc phân cấp phải đi đôi với nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.
Liên quan đến phân cấp, phân quyền quản lý không gian biển, tại điểm d khoản 2 Điều 22 quy định nguyên tắc phân cấp, phân quyền phải gắn với phân bổ nguồn lực tương xứng, tham gia góp ý, đại biểu Nguyễn Minh Sơn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp cho rằng, báo cáo tổng kết thi hành Luật năm 2015 cho thấy, nhân lực quản lý biển tại địa phương còn rất mỏng, bình quân mỗi địa phương chỉ có khoảng 2 đến 4 công chức, nhiều nơi kiêm nhiệm, cấp xã có biển hầu như chưa có cán bộ chuyên trách.
“Nếu tiếp tục phân cấp nhiệm vụ mà không bảo đảm năng lực thực hiện thì dễ dẫn đến tình trạng giao thêm thẩm quyền, trách nhiệm nhưng thiếu nhân lực, kinh phí và phương tiện để thực hiện”, đại biểu băn khoăn.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với đánh giá năng lực và bảo đảm các điều kiện thực hiện; nhất là nhân lực chuyên môn, kinh phí, trang thiết bị và cơ sở dữ liệu. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật của cơ quan cấp trên đối với địa phương, đặc biệt là cấp xã có biển”.
Bài: Gia Nguyễn - Ảnh: Quốc Tuấn