Tín dụng - Ngân hàng

Quản trị rủi ro tín dụng thương mại: Chuyển hóa "bất định" thành lợi thế cạnh tranh

Lê Mỹ (thực hiện) 19/06/2026 04:06

Trong môi trường kinh doanh bất định, quản trị rủi ro tín dụng với bảo hiểm tín dụng đã dịch chuyển. Bà Võ Thị Phương Anh - Giám đốc Quốc gia Coface Vietnam - trao đổi cùng DĐDN.

Nhìn lại lịch sử, thị trường bảo hiểm tín dụng Việt Nam từng có giai đoạn nhận được sự hỗ trợ phí từ Bộ Tài chính, nhưng sau đó chứng kiến sự sụt giảm tham gia của doanh nghiệp khi gói hỗ trợ kết thúc.

Trên thực tế, gói hỗ trợ phí ban đầu không có kết thúc một cách chính thức, nhưng các doanh nghiệp gần như cũng không đặt nặng vấn đề đó, họ đã quan tâm đến các yếu tố khác hơn.

Trong một thế giới đầy biến động, đến nay, quản trị rủi ro tín dụng với bảo hiểm tín dụng đã dịch chuyển từ một công cụ phòng vệ thuần túy trở thành chiến lược kiến tạo lợi thế cạnh tranh sắc bén, bà Võ Thị Phương Anh - Giám đốc Quốc gia Coface Vietnam - thành viên của Tập đoàn Bảo hiểm tín dụng Coface (Pháp) chia sẻ cùng DĐDN.

Bà Võ Thị Phương Anh - Giám đốc Quốc gia Coface Vietnam, Tập đoàn Bảo hiểm tín dụng Coface (Pháp)
Bà Võ Thị Phương Anh - Giám đốc Quốc gia Coface Vietnam

Bình thường hóa sự bất định: Tư duy quản trị rủi ro trong kỷ nguyên mới

- Thưa bà, nhìn lại chặng đường từ những năm 2010 đến nay, bà đánh giá thế nào về sự thay đổi trong cách tiếp cận rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam?

Câu chuyện rủi ro tín dụng và bảo hiểm tín dụng tại Việt Nam thực tế đã được thảo luận từ những năm 2010. Ở thời điểm đó, những người làm nghề đầu tiên như chúng tôi phải lặp đi lặp lại rất nhiều để giải thích cho thị trường hiểu sản phẩm này là gì, tốn không ít công sức chứng minh khái niệm bảo hiểm tín dụng giúp ích gì cho quản trị doanh nghiệp và vận hành kinh doanh dưới góc nhìn tổng quát.

Đến những năm gần đây, bài học lớn nhất không nằm ở các chi tiết kỹ thuật phức tạp mà tập trung vào khía cạnh kinh nghiệm và trải nghiệm thực tế. Điểm thay đổi rõ ràng nhất chính là cách chúng ta tiếp nhận và đón nhận những điều bất ổn, bất định.

Trước đây, khi vận hành doanh nghiệp, rủi ro thường được tiếp cận một cách đơn lẻ; các cuộc khủng hoảng dịch bệnh, biến động tỷ giá, lãi suất hay địa chính trị thế giới được nhìn nhận độc lập và mang tính ứng phó riêng rẽ. Tuy nhiên, hiện nay các biến động này đến mang tính chất đồng bộ. Do đó, thái độ của doanh nghiệp cũng như toàn bộ hệ sinh thái kinh tế bắt đầu dịch chuyển sang một trạng thái mới gọi là "bình thường hóa" sự bất định. Doanh nghiệp và cá nhân đã dần quen với khủng hoảng, coi rủi ro là một phần tất yếu của cuộc chơi thay vì là những cú sốc quá ngỡ ngàng.

- Vậy bản chất của những rủi ro này đã tiến hóa ra sao dưới góc nhìn của một tổ chức cung cấp tái bảo hiểm - hỗ trợ quản trị rủi ro chuyên nghiệp tại thị trường quốc tế?

Bản chất của rủi ro đã thay đổi sâu sắc. Trước đây, rủi ro của khách hàng hay người mua thường tập trung vào những điều cụ thể có thể sờ thấy, nhìn thấy được như đối tác phá sản, công ty dừng hoạt động hoặc mọi thứ đóng băng trong khủng hoảng.

Ngày nay, rủi ro mang tính chất cụ thể, rõ rệt hơn. Doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro nằm ở mức độ thanh khoản, hành vi thanh toán và các dự báo hành vi mà qua đó chúng ta phải cảm nhận hoặc nhìn thấy triệu chứng từ trước khi hậu quả xảy ra.

Theo cách truyền thống, người ta thường thẩm định người mua dựa trên các tiêu chí tiêu chuẩn như: Quy mô khách hàng có lớn không? Lịch sử giao dịch có lâu năm và thanh liêm không? Kinh nghiệm quản lý công nợ có bình ổn không? Hiện nay, doanh nghiệp không thể chỉ nhìn vào những bản chất cũ đó để đánh giá. Việc thẩm định bắt buộc phải mở rộng hơn, dựa vào các dữ liệu trải nghiệm thực tế, các yếu tố về mặt exposure (mức độ tổn thất dự kiến) và việc ghi nhận liên tục những bất ổn có thể xảy ra. Khi bản chất khách hàng thay đổi, các quy chuẩn cũ phải được cập nhật, cải tiến để bám sát lộ trình quản trị hiệu quả.

Dịch chuyển chiến lược: Từ quản trị khách hàng đơn lẻ sang danh mục rủi ro

- Có một xu hướng dịch chuyển lớn từ quản trị rủi ro đối tác đơn lẻ sang quản trị danh mục rủi ro. Bà có thể chia sẻ sâu hơn về thực tế này?

Đây là một dòng chảy thực tế mà Coface quan sát được từ các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp trong nước có hệ thống quản trị tốt. Họ không còn xem xét từng khách hàng một cách độc lập qua các cuộc thăm viếng, điều nghiên thông thường mà áp dụng hệ thống biện pháp quản trị theo danh mục rủi ro: Phân chia theo nhóm khách hàng, theo ngành nghề (đối với cơ chế đa ngành), hoặc theo phạm vi địa lý, quốc gia.

Thông điệp cốt lõi ở đây rất rõ ràng: Đôi khi một khách hàng đơn lẻ được đánh giá là tốt, nhưng chưa chắc họ đã tạo ra một danh mục khách hàng tốt.

Đây là kinh nghiệm thực tế của Coface khi làm việc với các tập đoàn tại Đông Nam Á và các doanh nghiệp đi đầu tại Việt Nam. Khi chuyển đổi tư duy này, vai trò của bảo hiểm tín dụng cũng thay đổi hoàn toàn. Nó không còn thuần túy là một sản phẩm bảo hiểm theo nghĩa: Mua đơn bảo hiểm, trả phí, khi có tổn thất thì nhận bồi thường. Phạm vi của nó đã trở thành một công cụ chiến lược để doanh nghiệp vận hành một hệ thống quản lý rủi ro đúng nghĩa, cụ thể là quản lý rủi ro các khoản phải thu và rủi ro tín dụng.

- Trong mô hình quản trị mới này, triết lý sử dụng dữ liệu của Coface được định hình như thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định?

Dữ liệu là yếu tố không thể thiếu, nhưng cách chúng ta hiểu, tiếp cận dữ liệu để làm gì và chất lượng của nó ra sao mới là điều quyết định tính sắc bén của doanh nghiệp.

Quan điểm của Coface là dữ liệu phải là thứ đi trước quyết định của doanh nghiệp xét về góc độ quản trị. Dữ liệu ở đây không phải là những con số, định nghĩa khô khan rút ra từ sách vở lý thuyết, mà phải là những kinh nghiệm, sự kiện thực tế được ghi lại.

Trước đây, dữ liệu đa phần được các định chế tài chính, doanh nghiệp dùng để phân tích và nhìn lại quá khứ – tức là nhìn lại xem chúng ta đã làm gì và vì sao có con số đó. Nhưng ngày nay, dữ liệu phải đi trước các quyết định cấp hạn mức tín dụng hay ký kết thương vụ thương mại.

Tôi cũng có quan điểm rằng dữ liệu không nên được sử dụng như một "tấm kính chiếu hậu" để nhìn lại phía sau, mà bắt buộc phải được sử dụng như một "tấm kính chắn" gió giúp bảo vệ doanh nghiệp trước các rủi ro phía trước.

Triết lý này giải quyết triệt để những băn khoăn của doanh nghiệp trong các buổi tọa đàm khi họ tìm kiếm giải pháp cân bằng giữa bài toán tăng trưởng và rủi ro. Mục tiêu cuối cùng là chuyển hóa hình thái quản lý rủi ro tín dụng thành lợi thế cạnh tranh. Thay vì né tránh rủi ro theo cách tiếp cận truyền thống, doanh nghiệp hiện đại chọn tiếp nhận, chấp nhận và nâng cao chất lượng quyết định dựa trên cơ sở dữ liệu vững chắc để bứt phá.

- Nhìn lại lịch sử, thị trường bảo hiểm tín dụng Việt Nam từng có giai đoạn nhận được sự hỗ trợ phí từ Bộ Tài chính nhưng sau đó chứng kiến sự sụt giảm tham gia của doanh nghiệp khi gói hỗ trợ kết thúc. Bà có thể giải thích rõ hơn về bối cảnh này?

Câu chuyện bắt đầu từ năm 2007, khi Coface đưa đơn bảo hiểm tín dụng đầu tiên vào Việt Nam. Vào những năm đó, cuộc khủng hoảng xuất khẩu nổ ra, Bộ Tài chính cùng các ban ngành đã kêu gọi các định chế tìm kiếm phương án hỗ trợ xuất khẩu. Do đó, bảo hiểm tín dụng tại Việt Nam ban đầu bén rễ từ gốc là bảo hiểm cho xuất khẩu nhiều hơn là bảo hiểm tín dụng thương mại nói chung.

Sau đó, Bộ Tài chính đã triển khai một đề án thí điểm cho bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thông qua việc lựa chọn 7 nhà bảo hiểm gốc tại Việt Nam. Trong đó, có 3 đối tác chiến lược của Coface lúc bấy giờ là Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh, Công ty Bảo hiểm Liên hiệp UIC và Công ty Bảo hiểm PVI, cùng một số đơn vị khác. Đề án này mang tính chất đặc thù khi hỗ trợ 10% phí bảo hiểm cho 23 ngành nghề xuất khẩu được lựa chọn trong danh mục, giúp doanh nghiệp hiểu về sản phẩm và vượt qua giai đoạn khó khăn của cuộc khủng hoảng 2007 - 2010.

- Vậy thực tế hiện tại, khi cơ chế hỗ trợ này đã khép lại, các doanh nghiệp đang tiếp cận bảo hiểm tín dụng với tư thế như thế nào?

Thực tế đây là một cơ chế hỗ trợ mở. Dù câu chuyện đã trôi qua mười mấy năm với nhiều thay đổi, hiện tại các doanh nghiệp khi tiếp cận sản phẩm thông qua các đối tác của Coface không còn quá bận tâm hay mong đợi khoản hỗ trợ 10% phí từ Bộ Tài chính hay Cục Quản lý giám sát bảo hiểm nữa.

Họ có cân nhắc về mặt chi phí và phí bảo hiểm, nhưng khi được tư vấn tốt về mặt tác dụng và lợi ích, họ hiểu và quen dần với việc: Phí phải trả phản ánh chính xác tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng tăng trưởng, càng có nhiều khoản phải thu được bảo hiểm thì chi phí phí bảo hiểm càng cao, điều này tỷ lệ thuận với quy mô kinh doanh và doanh thu của họ. Họ coi đó là chi phí đầu tư cho sự an toàn và mở rộng quy mô kinh doanh.

- Đến thời điểm hiện tại, mạng lưới đối tác của Coface tại Việt Nam được mở rộng ra sao để đáp ứng nhu cầu này của thị trường?

Tính đến thời điểm hiện tại, Coface đang có tổng cộng 4 đối tác làm bảo hiểm gốc tại Việt Nam. Bên cạnh 3 đối tác truyền thống lâu năm, vào năm trước đó chúng tôi đã chào đón thêm một đối tác mới tham gia là Công ty Bảo hiểm MIC – một đơn vị nằm trong hệ sinh thái chung của Ngân hàng Quân đội. Hệ thống 4 đối tác này cùng Coface đang tiếp tục cung cấp các giải pháp quản lý rủi ro tín dụng và bảo hiểm công nợ toàn diện, giúp doanh nghiệp vững vàng chuyển hóa thách thức thành cơ hội trên thị trường.

- Trân trọng cảm ơn Bà đã chia sẻ!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Quản trị rủi ro tín dụng thương mại: Chuyển hóa "bất định" thành lợi thế cạnh tranh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO