Những vướng mắc trong việc cấp mã số vùng trồng đang trở thành "điểm nghẽn" đối với ngành sầu riêng Đắk Lắk, một số quy định tại Nghị định 38 cần được rà soát để phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất.
Quy định về cấp mã số vùng trồng theo Nghị định 38/2026/NĐ-CP (Nghị định 38) đang trở thành một trong những khó khăn lớn đối với ngành sầu riêng Đắk Lắk. Theo lãnh đạo địa phương, một số tiêu chí trong nghị định chưa thực sự phù hợp với mô hình sản xuất phổ biến tại Tây Nguyên, khiến nhiều diện tích sầu riêng gặp khó trong quá trình đăng ký mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.
.jpg)
Tại buổi làm việc với đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới đây, ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, vướng mắc lớn nhất hiện nay nằm ở các quy định về cấp mã số vùng trồng tại Nghị định 38.
Cụ thể, khoản 1 Điều 3 quy định vùng trồng phải là nơi sản xuất cùng một loại cây trồng, áp dụng thống nhất quy trình sản xuất và bảo đảm đồng nhất về điều kiện tự nhiên. Trong khi đó, khoản 1 Điều 6 quy định diện tích tối thiểu của một vùng trồng đối với cây lâu năm là 10ha.
Theo ông Nguyễn Thiên Văn, những quy định này chưa thực sự phù hợp với điều kiện sản xuất tại Đắk Lắk cũng như nhiều địa phương khu vực Tây Nguyên, nơi mô hình trồng xen sầu riêng với cà phê đã tồn tại nhiều năm và mang lại hiệu quả kinh tế.
Hiện Đắk Lắk có khoảng 30.000ha sầu riêng đang cho thu hoạch, sản lượng niên vụ năm nay ước đạt khoảng 500.000 tấn. Tuy nhiên, toàn tỉnh mới có 445 mã số vùng trồng đã được cấp hoặc đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt, với tổng diện tích khoảng 12.500ha, tương đương khoảng 41,7% diện tích đang cho sản phẩm.
Điều đó đồng nghĩa còn khoảng 17.500ha, tương đương gần 350.000 tấn sầu riêng vẫn chưa có mã số vùng trồng. Nếu những vướng mắc hiện nay không sớm được tháo gỡ, hoạt động xuất khẩu chính ngạch của một lượng lớn sản phẩm sẽ gặp không ít khó khăn.
Từ thực tiễn trên, tỉnh Đắk Lắk đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét sửa đổi một số quy định của Nghị định 38 theo hướng phù hợp hơn với điều kiện sản xuất thực tế. Theo địa phương, việc cấp mã số vùng trồng cần tập trung vào khả năng đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại và an toàn thực phẩm, thay vì chỉ dựa vào tiêu chí vùng trồng thuần một loại cây hoặc diện tích tối thiểu.

Ghi nhận những kiến nghị từ địa phương, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ đã nhận thấy một số khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai Nghị định 38. Bộ sẽ rà soát, nghiên cứu để đề xuất sửa đổi những nội dung chưa phù hợp theo quy định, đồng thời tiếp tục làm việc với cơ quan chức năng phía Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc xem xét, phê duyệt các hồ sơ mã số vùng trồng còn tồn đọng.
Theo Thứ trưởng, việc hoàn thiện các quy định cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước, đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu và phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế ở từng địa phương.
Nhìn ở góc độ chính sách, nhiều ý kiến nhận định rằng, câu chuyện của Đắk Lắk đặt ra yêu cầu cân bằng giữa hai mục tiêu: bảo đảm các tiêu chuẩn quản lý, truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu, đồng thời phản ánh đúng đặc thù sản xuất của từng vùng. Đây cũng là vấn đề cần được nhìn nhận không chỉ từ góc độ quản lý mà còn dưới góc độ hoàn thiện chính sách.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh nội dung này, Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc Công ty Luật L&A Legal Experts cho rằng, điều quan trọng không nằm ở việc quy định chặt hay lỏng, mà ở chỗ các tiêu chí quản lý có phản ánh đúng mục tiêu cần kiểm soát và có tính khả thi khi áp dụng trên thực tế hay không.

Theo Luật sư Nhung, đối với mã số vùng trồng, mục tiêu cốt lõi là bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại, an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Vì vậy, nếu mô hình trồng xen vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này thì cần được nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở khoa học và thực tiễn để có quy định phù hợp hơn.
"Việc địa phương kiến nghị sửa đổi quy định cũng là một kênh phản hồi chính sách quan trọng. Thông qua quá trình tổ chức thực hiện, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để đánh giá tác động của quy định, từ đó hoàn thiện chính sách theo hướng vừa bảo đảm hiệu quả quản lý, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh", Luật sư Lê Thị Nhung phân tích.
Theo luật sư, việc rà soát, điều chỉnh quy định trong trường hợp phát sinh bất cập không đồng nghĩa với việc nới lỏng điều kiện quản lý. Ngược lại, đây là quá trình cần thiết để chính sách phát huy hiệu quả trong thực tiễn, nhất là đối với những ngành hàng xuất khẩu đang phát triển nhanh như sầu riêng.
Với ngành sầu riêng Đắk Lắk, việc tháo gỡ những vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp mở rộng cơ hội xuất khẩu mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng sát thực tiễn hơn. Khi các quy định vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương, đó sẽ là nền tảng quan trọng để ngành hàng phát triển ổn định, bền vững và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.