Hoàn thiện khung pháp lý cho công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), đồng thời tạo cơ chế thúc đẩy các ngành năng lượng biển mới là những nội dung được nhiều chuyên gia kỳ vọng khi góp ý sửa đổi Luật Dầu khí.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, việc sửa đổi Luật Dầu khí được đánh giá là cơ hội để mở rộng vai trò của ngành dầu khí từ khai thác tài nguyên truyền thống sang phát triển hệ sinh thái năng lượng biển hiện đại.

Trong các lĩnh vực năng lượng mới được đề cập trong Dự thảo, CCS được nhiều chuyên gia đặc biệt quan tâm bởi đây là công nghệ có vai trò quan trọng trong lộ trình giảm phát thải, đồng thời tận dụng hiệu quả hạ tầng dầu khí hiện hữu. Tuy nhiên, để CCS có thể phát triển thành một ngành công nghiệp mới, khung pháp lý cần được thiết kế đầy đủ, không chỉ dừng ở việc ghi nhận chủ trương mà phải giải quyết được các vấn đề về quyền khai thác, trách nhiệm pháp lý, cơ chế đầu tư và phân bổ rủi ro.
Theo TS Nguyễn Hữu Lương, Viện Dầu khí Việt Nam, Việt Nam có vùng biển rộng lớn với tiềm năng dồi dào về tài nguyên và năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp biển như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen, nhiên liệu xanh, CCS cùng nhiều dịch vụ kỹ thuật biển khác.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả những tiềm năng này, khung pháp lý cần có sự thay đổi theo hướng đồng bộ và linh hoạt hơn.
Theo TS Nguyễn Hữu Lương, với nhiều lợi thế về hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi, hệ thống dữ liệu địa chất, năng lực khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành các công trình biển quy mô lớn đã được tích lũy qua nhiều năm phát triển ngành dầu khí, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần được thiết kế theo hướng mở, tạo cơ sở pháp lý để Petrovietnam và các doanh nghiệp phát huy hiệu quả các nguồn lực hiện có.
Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản đã đầu tư mà còn tạo sự kết nối giữa hoạt động dầu khí truyền thống với các ngành năng lượng mới, hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng biển có tính liên kết cao.
Đối với lĩnh vực CCS, TS Nguyễn Hữu Lương cho rằng Luật cần bổ sung các quy định về quyền sử dụng các cấu tạo địa chất để lưu trữ carbon, cơ chế cấp phép, trách nhiệm pháp lý trong suốt quá trình vận hành cũng như các chính sách đủ hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư tham gia lĩnh vực còn rất mới này.
Trong khi đó, đối với LNG và điện khí, Luật Dầu khí cần bảo đảm tính thống nhất với pháp luật về điện lực và thị trường năng lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án quy mô lớn, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn chuyển dịch.
Đồng quan điểm, TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá việc lần đầu tiên đưa nội dung CCS vào Luật Dầu khí là bước tiến quan trọng, đặt nền móng pháp lý cho một lĩnh vực hoàn toàn mới tại Việt Nam.
Tuy nhiên, theo ông, các quy định hiện nay mới dừng ở mức nguyên tắc, trong khi quá trình triển khai thực tế sẽ phát sinh nhiều vấn đề cần được luật hóa hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết.

Theo TS Dư Văn Toán, Luật cần làm rõ quyền sử dụng các thành tạo địa chất để lưu trữ CO₂; tiêu chuẩn lựa chọn, thẩm định và cấp phép địa điểm lưu trữ; quyền sở hữu và trách nhiệm pháp lý đối với lượng CO₂ sau khi được bơm ép xuống lòng đất.
Bên cạnh đó, cần quy định đầy đủ về cơ chế giám sát trong quá trình vận hành và sau khi đóng cơ sở lưu trữ; thời điểm chuyển giao trách nhiệm dài hạn từ doanh nghiệp sang Nhà nước; cơ chế xử lý rủi ro; nghĩa vụ tài chính cũng như trách nhiệm thu dọn công trình sau khi dự án kết thúc.
Một nội dung khác cũng cần được nghiên cứu là khả năng nhập khẩu CO₂ để lưu trữ trong tương lai. Theo chuyên gia, nếu tận dụng hiệu quả các bể chứa địa chất ngoài khơi, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm lưu trữ carbon của khu vực.
Ngoài ra, Luật cũng cần làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động CCS với bơm ép tăng cường thu hồi dầu (EOR), qua đó bảo đảm sự thống nhất trong quá trình triển khai các dự án.
Theo TS Dư Văn Toán, nếu Luật Dầu khí chỉ quy định CCS ở mức nguyên tắc mà chưa giải quyết được các vấn đề cốt lõi như trách nhiệm dài hạn, mô hình doanh thu và cơ chế phân bổ rủi ro thì rất khó hình thành các dự án thương mại quy mô lớn.