Trong giai đoạn 2026- 2030, cần nguồn lực tài chính - ngân hàng lớn phục vụ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, Thống đốc NHNN cho rằng tín dụng không thể và không nên là nguồn vốn duy nhất cho mọi nhu cầu phát triển.
Điều này đặt ra bài toán tái cấu trúc hệ sinh thái vốn.

Chia sẻ với Diễn đàn Doanh nghiệp, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, Công ty Chứng khoán An Bình (ABS), cho biết tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP từ 112% năm 2020, đã tăng lên 145% vào 2025 và được dự báo có thể tăng thêm trong năm nay.
- Bài toán kéo tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP xuống thấp trong bối cảnh nền kinh tế tất yếu phải có động lực vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tăng trưởng cần được điều chỉnh như thế nào, thưa ông?
Với diễn tiến hiện nay về tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP, các định chế quốc tế đã cảnh báo chúng ta về những rủi ro. Trong khi đó, việc đặt mục tiêu đầu tư, tăng trưởng 10% mỗi năm trong giai đoạn tới là tầm nhìn và quyết sách mà Việt Nam không thể không thực thi. Bởi vì, đây là giai đoạn quyết định quan trọng cho đà bật nhảy của nền kinh tế lên một nấc thang mới. Do đó, bài toán lúc này đối với hệ thống ngân hàng là làm cách nào để vẫn đáp ứng nhu cầu vốn, song sẽ hạ dần và duy trì tỷ lệ tối đa khoảng dưới 2 lần, tức tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP dưới 2 lần càng tốt.
Khi điều chỉnh công thức về mặt lý thuyết, mẫu số phải tăng lên, còn tử số không tăng lên. Có nghĩa là quy mô GDP phải tăng lên nhưng tỷ lệ dư nợ tín dụng không tăng tương ứng. Mặc dù công thức đơn giản nhưng phức tạp. Và muốn tăng quy mô GDP, giữ nguyên tín dụng, rõ ràng nền kinh tế không thể và không nên chỉ dựa vào vốn tín dụng để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tăng trưởng mà phải dùng nguồn vốn khác. Điều này là tiền đề tái thiết hệ sinh thái các kênh vốn để đáp ứng nhu cầu.

- Đâu sẽ là các kênh cần ưu tiên tái thiết, tái cấu trúc cho một hệ sinh thái mạnh, nguồn vốn dồi dào hơn, thưa ông?
Trước hết, đó là thị trường vốn, gồm hai kênh vốn quan trọng: trái phiếu và cổ phiếu. Vào thời điểm này, trái phiếu sẽ là một trong những kênh rất phù hợp để doanh nghiệp có thể tiếp cận được, nhất là cho nhu cầu tài trợ đầu tư hạ tầng. Cơ quan quản lý thị trường vốn cũng đã và đang nỗ lực để cải thiện với các mục tiêu cụ thể đặt ra cho thị trường này.
Trên thực tế, không chỉ có vốn vay đầu tư hạ tầng mới có kỳ vọng về nguồn vốn lớn và dài hạn. Bên cạnh vốn trái phiếu, còn có vốn chứng khoán (cổ phiếu). Chứng khoán là kênh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, trong đó có đông đảo chủ đầu tư, có cơ hội huy động, bổ sung nguồn vốn. Từ trước đến nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thường dựa vào vốn tín dụng hoặc vốn tư nhân, bỏ qua việc huy động từ thị trường vốn. Hệ quả là bài toán huy động hiện nay trở nên vô cùng bế tắc.
Để giải quyết vấn đề nói trên, các doanh nghiệp SME có thể xem xét các hướng: Thứ nhất là tiếp cận nguồn vốn vay quốc tế thông qua Thư tín dụng dự phòng (SBLC) do các ngân hàng phát hành cho doanh nghiệp SME. Đa số các khoản vay quốc tế đều yêu cầu nhóm SME phải có SBLC từ ngân hàng bảo lãnh.
Thứ hai là khai thác thị trường vốn. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp SME ở Việt Nam chưa niêm yết. Do đó, cần nhanh chóng lên kế hoạch đưa cổ phiếu lên sàn, tối thiểu là UPCoM, đồng nghĩa với việc hoàn thành đại chúng hóa và cổ phần hóa, từ đó doanh nghiệp có thể sử dụng cổ phần làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay.
Ngoài SBLC, các tổ chức tín dụng quốc tế rất ưa chuộng tài sản đảm bảo là cổ phần. UPCoM là lựa chọn khả thi nhờ điều kiện niêm yết nới lỏng hơn so với HoSE.
Thứ ba, kết hợp phát hành trái phiếu với tài sản đảm bảo có thể là SBLC, cổ phiếu, hoặc lựa chọn hình thức phát hành trái phiếu chuyển đổi.
- Hiện nay, vẫn có nhiều kênh vốn khác chưa được khai thác hết hiệu quả, ví dụ như kênh cho thuê tài chính, vốn mua bán tài sản doanh nghiệp, hay quỹ bảo lãnh tín dụng, vốn từ kỹ thuật số… Theo ông, một bản đồ cấu trúc hệ sinh thái vốn đồng bộ cần chú trọng điều gì?
Trên thực tế, các kênh vốn khác chưa được khai thác hết, chủ yếu do thị trường Việt Nam vẫn thiếu các sản phẩm tài chính để giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp. Hiện nay, quy mô nợ vay ngân hàng trong tổng quy mô tài sản tại Việt Nam chiếm tỷ lệ cao.
Trong khi đó, tỷ trọng đòn bẩy vay nợ của các doanh nghiệp nước ngoài cũng rất cao. Thay vì đi vay nợ trực tiếp, họ chuyển nợ thành trái phiếu, hoặc token hóa thông qua một tài sản nào đó. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu vay nhưng vẫn lúng túng tiếp cận các kênh vay.
Việc cấu trúc lại, đa dạng các sản phẩm tài chính sẽ mở rộng hơn các cửa tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Trong dài hạn, ngoài các phương thức hiện hữu, tôi kỳ vọng những bước thúc đẩy tiếp cho cơ chế sandbox, tài sản số, tài sản mã hóa đi vào vận hành trong thực tế, sẽ mang đến những cơ hội tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp để khai thác tối đa các mô hình thể chế mới như Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam.
- Trân trọng cảm ơn ông!