Kim ngạch song phương Việt Nam - Vương quốc Anh đã lên mức cao nhất từ trước tới nay, nhưng để chuyển đổi về chất trong thương mại, dư địa tăng trưởng tiếp theo có thể nằm ở dịch vụ, vốn và công nghệ.

Theo Bộ Kinh doanh và Thương mại Vương quốc Anh, tổng thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước đạt 10,5 tỷ bảng trong năm 2025, tăng 26,5% so với năm trước. Quy mô này đã hơn gấp đôi mức 4,8 tỷ bảng của năm 2016.
Trong những năm tới, khi Việt Nam nỗ lực dịch chuyển khỏi vai trò gia công, Vương quốc Anh có thể đóng góp nhiều hơn vào quá trình này bằng giá trị thay vì khối lượng.
Trong 12 tháng tính đến hết quý I/2026, thiết bị viễn thông và âm thanh dẫn đầu với 2,6 tỷ bảng, chiếm 33% tổng hàng hóa Vương quốc Anh nhập từ Việt Nam. Máy móc văn phòng đạt gần 839 triệu bảng. Các mặt hàng điện tử đang dần đứng ngang hàng với những nhóm hàng tiêu dùng truyền thống như giày dép và may mặc, với kim ngạch lần lượt khoảng 745 triệu và 618 triệu bảng. Sự thay đổi trong cơ cấu này đang góp phần nâng quy mô thương mại.
Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giá trị cao cũng cho thấy dư địa lớn hơn cho xuất khẩu của Vương quốc Anh. Dược phẩm hiện là nhóm hàng lớn nhất Vương quốc Anh xuất sang Việt Nam, với gần 250 triệu bảng. Xuất khẩu dịch vụ của Vương quốc Anh sang Việt Nam trong 4 quý tính đến hết quý I/2026 tăng 51,3%, lên 658 triệu bảng. Nhờ đó, thặng dư dịch vụ của Vương quốc Anh tăng từ 12 triệu bảng lên 197 triệu bảng chỉ sau một năm.
Đà tăng trưởng thương mại song phương vẫn được duy trì trong bối cảnh thương mại toàn cầu có nhiều biến động. Bộ Công Thương cho biết trong 7 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đạt gần 6 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nếu xu hướng này tiếp diễn, một lớp tăng trưởng mới trong quan hệ kinh tế giữa hai nước có thể hình thành ở tài chính, giáo dục, công nghệ và dịch vụ chuyên môn - những lĩnh vực Vương quốc Anh có thế mạnh và Việt Nam còn nhiều nhu cầu.
Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam Iain Frew cho rằng, động lực tăng trưởng thương mại Việt Nam - Vương quốc Anh đến từ cả khung khổ thương mại lẫn khả năng tận dụng của doanh nghiệp.
“Thương mại giữa hai nước tăng mạnh, một phần nhờ các hiệp định thương mại, nhưng cũng nhờ doanh nghiệp tận dụng cam kết đã có. Chúng ta cần tiếp tục khai thác ưu đãi thuế, hạn ngạch và tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp”, ông Iain Frew cho biết.
Tuy vậy, hai bên vẫn cần xử lý những điểm nghẽn mới liên quan đến tiêu chuẩn, thủ tục và khả năng đáp ứng quy định. Tại cuộc họp Ủy ban Thương mại UKVFTA năm 2025, nhiều vấn đề vẫn được đưa ra xử lý, từ tiếp cận thị trường nông sản, đăng ký cơ sở thực phẩm đến dược phẩm. Phía Vương quốc Anh ước tính một thay đổi trong pháp luật dược của Việt Nam có thể giúp doanh nghiệp dược Vương quốc Anh tăng thêm tới 250 triệu bảng xuất khẩu trong vòng 5 năm.
Ở giai đoạn tiếp theo, giá trị của FTA nằm nhiều hơn ở khả năng xử lý rào cản kỹ thuật, rút ngắn thời gian cấp phép và hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng quy tắc xuất xứ, thay vì tiếp tục tập trung vào cắt giảm thuế.
Đến cuối năm 2025, nhà đầu tư Vương quốc Anh có 623 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 4,7 tỷ USD, theo số liệu của Bộ Tài chính. Đây là một nền tảng đáng kể, nhưng vẫn còn khiêm tốn so với thế mạnh của Vương quốc Anh về tài chính, bảo hiểm, dịch vụ chuyên môn và huy động vốn quốc tế.
Trong quan hệ song phương, thương mại, đầu tư và tài chính đã và đang được xác định là một trụ cột riêng, trong đó có các nội dung về trung tâm tài chính quốc tế, thị trường vốn, fintech, tài chính xanh và bảo hiểm.
Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM và Đà Nẵng vì thế đang trở thành một trục hợp tác mới giữa Việt Nam và Vương quốc Anh. Hai bên cũng đề cập chương trình của UK Export Finance, với khả năng hỗ trợ lên tới 5 tỷ bảng cho các dự án tại Việt Nam. Đây là năng lực tín dụng xuất khẩu có thể huy động, không phải nguồn vốn đã được cam kết.
Theo Đại sứ Iain Frew, một trung tâm tài chính có cấu trúc đủ tin cậy có thể giúp Việt Nam thu hút dòng vốn quốc tế cho các dự án xanh, fintech và nhiều lĩnh vực mới.
Bán dẫn có thể là một điểm giao tiềm năng khác, nơi năng lực của hai nước bổ trợ cho nhau khá rõ. “Vương quốc Anh muốn hợp tác với Việt Nam về bán dẫn, AI, điện toán lượng tử, an ninh mạng và fintech. Việt Nam phát triển nhanh, Vương quốc Anh có thế mạnh về thiết kế chip và công nghệ bán dẫn chuyên biệt, nên dư địa hợp tác giữa hai nước còn lớn”, Đại sứ Iain Frew chia sẻ.
Sự bổ trợ này thể hiện khá rõ trong định hướng của mỗi bên. Chiến lược bán dẫn của Vương quốc Anh tập trung vào thiết kế, sở hữu trí tuệ, bán dẫn hợp chất và R&D. Trong khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 50.000 kỹ sư và cử nhân bán dẫn, đồng thời phát triển năng lực ở nhiều công đoạn trong chuỗi giá trị.
Nếu hợp tác có thể dẫn tới các trung tâm R&D, đội ngũ thiết kế chung hoặc các hợp đồng sở hữu trí tuệ giữa doanh nghiệp hai nước, quan hệ song phương sẽ dịch chuyển rõ hơn sang các hoạt động tạo giá trị cao.
Một quan hệ kinh tế sâu rộng hơn giữa 2 nước có thể được đo bằng tỷ trọng dịch vụ lớn hơn, dòng vốn dài hạn nhiều hơn và số dự án công nghệ có hoạt động R&D đặt tại Việt Nam gia tăng. Điều đó cũng thể hiện ở khả năng doanh nghiệp Việt Nam sử dụng London như một trung tâm vốn và dịch vụ để tiếp cận thị trường quốc tế.