Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, tại phiên họp sáng nay 18/10, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra Dự án Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội.

Trình bày tờ trình dự án nghị quyết tại phiên họp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Huy Tiến cho biết, thực tiễn ở Việt Nam, việc thu hồi tài sản phải trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khi xét xử, giải quyết vụ án hình sự. Gần đây, việc thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng có chuyển biến tích cực, số tiền, tài sản thu hồi cao hơn so với nhiều năm trước đây. Công tác vận động các đối tượng nộp lại tài sản chiếm đoạt, khắc phục hậu quả ngày càng hiệu quả.
Trong giai đoạn 2021-2025, tổng số tiền đã áp dụng biện pháp bảo đảm để thu hồi trong các vụ việc, vụ án tham nhũng, chức vụ, kinh tế liên quan đến chức vụ: 74.769.642 triệu đồng. Số tiền đã áp dụng biện pháp bảo đảm để thu hồi trong các vụ việc, vụ án tham nhũng, chức vụ 13.360.278 triệu đồng/23.623.954 triệu đồng về tiền (số tiền áp dụng các biện pháp theo Nghị quyết 164/2024/QH15 của Quốc hội là 3.964.200 triệu đồng và 100.000 USD) và đã tạm giữ, kê biên, tạm ngừng giao dịch nhiều tài sản khác.
Công tác thi hành án dân sự thu hồi được 109.626.738 triệu đồng/28.636 việc; một số vụ án tham nhũng, kinh tế thu hồi đạt tỷ lệ cao; đặc biệt có vụ thu hồi đạt 100% như vụ án xảy ra tại Công ty TNHH Tân Hoàng Minh.

Tuy nhiên, theo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, công tác thu hồi tài sản còn nhiều hạn chế, vướng mắc; tỷ lệ thu hồi tài sản thấp so với số tài sản thuộc diện phải thu hồi, thời gian thu hồi chậm, tài sản phải thu hồi còn thất thoát, lãng phí.
Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ việc thu hồi tài sản chỉ được thực hiện dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân, chưa có cơ chế thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm trước khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân; giá trị tài sản được kê biên, phong tỏa, thu giữ, tạm giữ để bảo đảm thi hành án thấp hơn so với số tiền, tài sản phải thu hồi; tài sản do phạm tội mà có đã bị chuyển dịch, tẩu tán, trong khi pháp luật chưa quy định biện pháp cụ thể để truy tìm tài sản của người phải thi hành án bị che giấu nguồn gốc; quy định của pháp luật về kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án còn vướng mắc, bất cập.
“Vì vậy, việc ban hành nghị quyết tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hiệu quả cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến các tội phạm rửa tiền, kinh tế, tham nhũng, chức vụ. Đánh giá tính khả thi của cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua thủ tục kết tội trong điều kiện thực tiễn Việt Nam”, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao khẳng định.

Theo tờ trình, dự thảo nghị quyết được xây dựng với kết cấu gồm 3 chương, 22 điều. Về các vụ án hình sự áp dụng cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội (Điều 5): Theo Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị, phạm vi loại vụ án hình sự tiến hành thu hồi tài sản gồm các vụ án hình sự về tội phạm rửa tiền, kinh tế, tham nhũng, chức vụ.
Để bảo đảm phù hợp với các chương của Bộ luật Hình sự, dự thảo nghị quyết quy định cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội được áp dụng đối với vụ án hình sự về các tội phạm: Tội rửa tiền, Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Các tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ.
Về các trường hợp áp dụng cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội (Điều 7), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho hay, quy định 3 trường hợp kèm các căn cứ để áp dụng cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội gồm: Trường hợp đã khởi tố vụ án hình sự nhưng quyết định khởi tố vụ án bị hủy bỏ; Trường hợp vụ án hình sự bị tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án; Trường hợp vụ án hình sự bị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.
Quy định hiệu lực thi hành của Nghị quyết, thời gian thực hiện thí điểm là 2 năm từ ngày 01/3/2027; đồng thời quy định chuyển tiếp đối với vụ việc đang được giải quyết khi Nghị quyết hết hiệu lực, bảo đảm tính liên tục trong quá trình áp dụng pháp luật. Nghị quyết không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 00 giờ 00 phút ngày 01/3/2027.
Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án nghị quyết này, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhất trí sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng; đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế và thực tiễn của Việt Nam về việc thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự.
Nội dung dự thảo nghị quyết bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với điều ước quốc tế; bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hồ sơ dự án nghị quyết bảo đảm đầy đủ thành phần theo quy định, đủ điều kiện để trình Quốc hội.
Theo Chủ nhiệm Phan Chí Hiếu, Ủy ban cũng tán thành với quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như trong dự thảo nghị quyết nhằm kịp thời ngăn chặn việc tài sản bị tẩu tán, thất thoát sau khi có căn cứ kết thúc vụ án hình sự. Tuy nhiên, đề nghị cần quy định cụ thể cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo từng giai đoạn cụ thể trong trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại để bảo đảm minh bạch, rõ ràng và thống nhất trong tổ chức thực hiện.