Khi thẩm thấu vào ngành sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị, kinh tế số trở thành một động lực tạo bứt phá cho doanh nghiệp, nền kinh tế.
GS TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Đại học Kinh tế quốc dân nhấn mạnh đến yêu cầu đẩy nhanh hơn những tác động lan toả của kinh tế số tới các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tăng năng suất.
GS TS Tô Trung Thành - Đại học Kinh tế quốc dân cho biết: kinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn từ địa chính trị, thương mại…, việc tận dụng cơ hội từ kinh tế số là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian tăng trưởng, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Kinh tế số tại Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ở mức cao. Trong đó, các ngành kinh tế số lõi chiếm hơn 60% tổng giá trị kinh tế số năm 2025. Các ngành số hóa chiếm phần còn lại, gần 40%.
Cụ thể, các lĩnh vực thuộc kinh tế số lõi như công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, thông tin truyền thông tiếp tục giữ vai trò chi phối với tỷ trọng kinh tế số trên giá trị gia tăng ở mức rất cao. Nhiều ngành dịch vụ như bán buôn bán lẻ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm cũng tăng trưởng nhanh về số hóa nhờ sự phát triển của thương mại điện tử, fintech và dữ liệu lớn. Ngược lại, các ngành nông nghiệp, xây dựng có mức độ số hóa thấp, phản ánh những rào cản về đặc thù sản xuất, quy mô và năng lực công nghệ.
Từ những dữ liệu thống kê trên, GS TS Trần Thọ Đạt bày tỏ: cấu trúc kinh tế số của Việt Nam vẫn còn thiên về “phần lõi”. Tăng trưởng kinh tế số chủ yếu dựa vào mở rộng các ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ công nghệ. Trong khi quá trình số hóa các ngành truyền thống còn chậm và chưa đồng đều.
Từ thực tế đó, theo GS TS Trần Thọ Đạt, cấu trúc trên cần được đảo chiều theo hướng nâng dần tỷ lệ kinh tế số lan tỏa chiếm 60% tổng giá trị kinh tế số và kinh tế số lõi chiếm 40% còn lại. Cấu trúc này phản ánh đúng vai trò của kinh tế số như một động lực tăng trưởng, thông qua khả năng thẩm thấu vào các ngành sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng nhìn nhận việc chuyển dịch cấu trúc này không thể diễn ra trong thời gian trước mắt mà đòi hỏi đầu tư đồng bộ cho cả hai cấu phần. Trong đó, trong kinh tế số lõi, phát triển các lĩnh vực công nghệ thông tin, bán dẫn, hạ tầng số là điều kiện tiên quyết để tạo nền tảng cho toàn bộ hệ sinh thái số. Cùng với đó, quá trình lan tỏa của kinh tế số sang các ngành khác sẽ phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Với ý nghĩa đó, kinh tế số cần được hiểu như một hạ tầng của tăng trưởng, nơi công nghệ và dữ liệu trở thành nền tảng để các ngành kinh tế khác vận hành hiệu quả hơn.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, GS TS Tô Trung Thành cho rằng, kinh tế số chỉ phát huy khi có năng lực hấp thụ tốt. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI hiệu quả khá rõ trong khi doanh nghiệp nhỏ khó hấp thu công nghệ.
Từ những nghiên cứu của mình, chuyên gia của Đại học Kinh tế quốc dân nhấn mạnh: Quy mô và nguồn lực là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể khai thác hiệu quả các khoản đầu tư vào công nghệ số. Các doanh nghiệp lớn có khả năng đầu tư đồng bộ vào hạ tầng, nhân lực và quản trị. Trong khi các doanh nghiệp nhỏ dễ gặp hạn chế về nguồn lực và rơi vào tình trạng đầu tư dưới mức tối ưu.

Phân tích theo ngành, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và vận tải kho bãi, hoạt động số có tác động tích cực, rõ rệt đến năng suất lao động. Số hóa giúp tối ưu quy trình sản xuất và chuỗi cung ứng. Ngược lại, tại các ngành truyền thống hoặc thâm dụng lao động như nông nghiệp, thương mại, dịch vụ… hoạt động số thậm chí có tác động tiêu cực trong ngắn hạn, phản ánh chi phí chuyển đổi cao và hạn chế về năng lực hấp thụ công nghệ.
Thực tế trên, theo GS TS Tô Trung Thành cho rằng chính sách không chỉ thúc đẩy số hóa mà phải hỗ trợ tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Cụ thể, để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số cần tạo lập môi trường khởi nghiệp thuận lợi để nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp làm chủ các giải pháp công nghệ hiện đại.
Bên cạnh đó, phân hóa chính sách hỗ trợ theo quy mô. Doanh nghiệp nhỏ nhận ưu đãi tín dụng và đào tạo, còn doanh nghiệp lớn tiên phong đầu tư hạ tầng dữ liệu. Các ngân hàng thương mại cần cải thiện khả năng tiếp cận vốn, chấp nhận tài sản vô hình và nhãn hiệu làm tài sản thế chấp.
Cùng với doanh nghiệp, mô hình phát triển cần dựa trên 3 trụ cột chính để tiếp tục nâng cao tỷ trọng kinh tế số. Đó là kinh tế số lõi chuyển dịch từ gia công sang làm chủ công nghệ; trong khi kinh tế số ngành cần được số hóa sâu vào chuỗi giá trị, các ngành tài chính ngân hàng, bán lẻ, logistics và nông nghiệp chuyển từ ứng dụng công nghệ bề mặt sang tái cấu trúc mô hình vận hành dựa trên dữ liệu và AI.
Cuối cùng, quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế cho kinh tế số; chuyển đổi từ chính quyền điện tử sang chính quyền số dựa trên dữ liệu sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược, với hệ thống kết nối liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương.