Để sản phẩm sáng tạo trên môi trường số mang lại giá trị kinh tế bền vững, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn, thúc đẩy bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa.

Số liệu từ Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam cho thấy, năm 2025, doanh thu tiền sử dụng tác quyền đạt hơn 424,3 tỷ đồng (tăng 8%), trong đó riêng khoản thu từ các nền tảng trực tuyến (website và ứng dụng) là xấp xỉ 298 tỷ đồng.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển, cách mạng công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI) lan tỏa mạnh mẽ, việc bảo vệ cũng như khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ và thương hiệu đã trở thành đòi hỏi tất yếu, giúp các cá nhân, tổ chức khẳng định quyền sở hữu và xác lập lợi thế cạnh tranh bền vững.
Về pháp luật chuyên ngành, Luật Sở hữu trí tuệ cho phép chủ thể quyền áp dụng biện pháp công nghệ để bảo vệ quyền, yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên mạng; đồng thời quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian.
Nghị định số 17/2023/NĐ-CP và Nghị định số 134/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm của nền tảng, cơ sở dữ liệu về quyền tác giả, quyền liên quan và các vấn đề mới từ trí tuệ nhân tạo.
Trước đó, nhằm thắt chặt kỷ cương trong lĩnh vực này, ngày 30/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg về tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ thị hướng đến mục tiêu ngăn chặn, giảm thiểu tối đa các hành vi vi phạm bản quyền, sản xuất - buôn bán hàng giả, hàng nhái trên cả thị trường truyền thống lẫn không gian mạng; qua đó bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho tác giả, doanh nghiệp, người tiêu dùng và cải thiện môi trường đầu tư.
Ngay sau khi Chỉ thị được ban hành, các bộ, ngành đã đồng loạt triển khai các chương trình hành động mạnh mẽ, xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm ở quy mô lớn.
Thống kê cho thấy, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các lực lượng chức năng toàn quốc đã phát hiện và xử lý gần 68.000 vụ vi phạm (tăng hơn 36% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, có hơn 5.700 vụ việc liên quan đến hàng giả và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (tăng khoảng 75%).
Tuy nhiên, để sản phẩm sáng tạo trên môi trường số mang lại giá trị kinh tế như kỳ vọng, vấn đề bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa vẫn cần thêm những giải pháp.
Chia sẻ tại Hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số - Khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số” mới đây, cảnh báo về xung đột bản quyền sâu sắc ở giai đoạn “đầu vào” của mô hình AI, TS Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội bày tỏ, việc các doanh nghiệp công nghệ tự ý quét dữ liệu từ sách báo, âm nhạc, di sản của Việt Nam để huấn luyện các mô hình AI thương mại mà không xin phép, không trả tiền là hành vi khai thác trái phép tài nguyên quốc gia.
Theo TS Hoàng Minh Hiếu, dù Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (Luật số 131/2025/QH15) và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP đã cho phép ngoại lệ khai thác văn bản cho mục đích nghiên cứu phi thương mại. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại “khoảng trống” về nghĩa vụ minh bạch dữ liệu huấn luyện khiến chủ thể quyền sở hữu không có công cụ tự phát hiện vi phạm.
Từ đó, TS Hoàng Minh Hiếu kiến nghị, Quốc hội cần luật hóa nghĩa vụ minh bạch dữ liệu huấn luyện trong Luật Trí tuệ nhân tạo, thiết lập cơ chế đăng ký bảo lưu quyền tập trung, đồng thời nâng cao hoạt động giám sát tối cao đối với việc thực thi các quy định buộc gỡ bỏ nội dung lậu.
Đồng quan điểm, ông Quản Tuấn An, Trưởng phòng Quản lý và hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục nâng cao năng lực của từng tổ chức quản lý tập thể, mà cần từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng thông tin để hình thành thị trường cấp phép quyền tác giả, quyền liên quan minh bạch, thuận lợi và có khả năng thích ứng với sự phát triển của môi trường số.
Ông An đề xuất, cần chuẩn hóa trách nhiệm giải trình của CMO đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc CMO Việt Nam ký kết và thực hiện thỏa thuận đại diện đối ứng với CMO nước ngoài, nghiên cứu áp dụng cơ chế cấp phép tập thể mở rộng (ECL) đối với một số lĩnh vực đặc thù như sử dụng âm nhạc tại các tụ điểm thương mại hay khai thác dữ liệu huấn luyện AI thương mại hóa để nghĩa vụ trả tiền bản quyền được thực thi khả thi và thuận lợi.
Ngoài các vấn đề đã nêu, một số ý kiến cũng kiến nghị, chuyển trọng tâm thực thi sang việc định vị và xử lý chủ thể đứng sau hành vi vi phạm, thay vì chỉ gỡ bỏ thụ động các đường dẫn liên kết.