Chuyên đề

Tín chỉ carbon Việt Nam - Lớp đầu tư tài sản tiềm năng mới

An Định 30/04/2026 16:00

Thị trường carbon đóng vai trò then chốt trong mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Việt Nam trong cuộc đua Net Zero toàn cầu, đang nỗ lực thúc đẩy thị trường này.

Hiện các cơ chế định giá carbon đã bao phủ khoảng 24% lượng phát thải toàn cầu và tạo ra hơn 100 tỷ USD doanh thu năm 2024, đồng thời được kỳ vọng có thể huy động 10–40 tỷ USD vào năm 2030 cho các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

Tín chỉ carbon 1
Tín chỉ carbon Việt Nam - Lớp đầu tư tài sản tiềm năng mới

Đối với ASEAN, phát triển thị trường carbon cần trở thành một trụ cột trong chiến lược kinh tế – môi trường khi khu vực vừa theo đuổi tăng trưởng mạnh mẽ vừa phải thực hiện cam kết khí hậu. Với lợi thế sở hữu khoảng một phần ba giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới, ASEAN có thể tạo ra tới 3.000 tỷ USD doanh thu và 13,7 triệu việc làm xanh vào năm 2050 nếu mở rộng hiệu quả thị trường này. Tuy nhiên, hiện thị trường carbon trong khu vực còn phân mảnh do khác biệt về khung pháp lý giữa các quốc gia, hạn chế giao dịch xuyên biên giới và thu hút đầu tư. Việc hài hòa hóa theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, cùng các sáng kiến như ASEAN Common Carbon Framework, sẽ giúp tăng tính minh bạch, thanh khoản và thu hút dòng vốn quốc tế vào khu vực.

Thị trường tín chỉ carbon Việt Nam: Đầu tư "tài sản xanh"

Trong bối cảnh đó, Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn với các dự án chứng chỉ carbon cũng đang gia nhập đường đua phát triển thị trường carbon. Báo cáo Wealth Management Vol.10 của Chứng khoán SHS dẫn số liệu báo cáo Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) số tháng 3/2023, tính đến tháng 11/2022, có tổng cộng 276 dự án CDM (Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mechanism - CDM) và gần 29,4 triệu tín chỉ carbon đã được ban hành từ các dự án tín chỉ carbon được phát triển theo cơ chế CDM tại Việt Nam. Ngoài CDM, Việt Nam cũng phát triển các dự án tín chỉ carbon theo các tiêu chuẩn quốc tế độc lập.

Quy mo thi truong

Đáng chú ý, trong thời gian qua, nước ta có hơn 300 chương trình, dự án đăng ký thực hiện theo các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon..., trong đó có khoảng 150 chương trình, dự án được cấp 40,2 triệu tín chỉ và trao đổi trên thị trường carbon thế giới. Việt Nam là một trong bốn nước có dự án CDM đăng ký nhiều nhất, sau Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và đứng thứ 9 trên tổng số 80 quốc gia có dự án CDM được cấp tín chỉ.

Việc thiết lập và vận hành thị trường carbon, cả tuân thủ và tự nguyện, là chiến lược quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trước khi thị trường bắt buộc trong nước triển khai, rất nhiều dự án tín chỉ carbon của Việt Nam đã được niêm yết và giao dịch trên các cơ chế tự nguyện toàn cầu.

"Việc hình thành và vận hành thị trường tín chỉ carbon sẽ giúp Việt Nam hưởng lợi tối đa từ thương mại quốc tế (như Hiệp định tự do thương mại EU - Việt Nam); tăng khả năng thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), cũng như tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu vào các thị trường khó tính có sự quan tâm cao tới bảo vệ môi trường như EU", ông Nguyễn Minh Hạnh - Giám đốc Trung tâm Phân tích SHS đánh giá.

Với lợi ích nhìn thấy được từ đầu tư dự án xanh, dự án ESG, tầm quan trọng của cuộc cách mạng xanh cũng đã được xác định. Hàng loạt dấu mốc chính sách quan trọng đã được thiết lập, từ Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đến Nghị định 06/2022/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định 119/2025/NĐ-CP ban hành tháng 6/2025. Những văn bản này thể hiện cam kết chính thức của Chính phủ trong việc xây dựng thị trường carbon quốc gia, phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 cũng như các nghĩa vụ quốc tế theo Hiệp định Paris, theo ông Nguyễn Minh Hạnh.

Cơ hội và thách thức

Báo cáo của SHS chỉ ra những cơ hội và thách thức trong lộ trình đến 2030 và xa hơn. Theo đó, thị trường carbon Việt Nam được triển khai theo 3 giai đoạn. 2023–2025: Chuẩn bị nền tảng – xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải, hoàn thiện khung pháp lý và thử nghiệm trao đổi tín chỉ tự nguyện. 2025–2027: Thí điểm Hệ thống giao dịch phát thải (ETS), một số ngành được phân bổ hạn ngạch và tham gia giao dịch thử nghiệm. Từ 2028: Vận hành chính thức trên toàn quốc, với nghĩa vụ bắt buộc đối với các ngành phát thải cao.

Với lộ trình này, các doanh nghiệp phát thải lớn (trên 3.000 tCO₂e/năm) sẽ phải kiểm kê và báo cáo khí nhà kính. Các nhà xuất khẩu, đặc biệt sang EU, chịu áp lực minh bạch dữ liệu theo cơ chế như CBAM.

Tuy nhiên, thị trường carbon cũng mở ra cơ hội: Doanh nghiệp giảm phát thải vượt mức có thể bán tín chỉ; đầu tư vào năng lượng tái tạo, sinh khối, phục hồi rừng có thể tạo thêm nguồn thu; hệ thống quản lý phát thải tốt giúp tiếp cận vốn xanh và đáp ứng yêu cầu ESG từ các tập đoàn quốc tế.

Thách thức ở chiều ngược lại là nhiều doanh nghiệp còn thiếu hệ thống đo lường phát thải đáng tin cậy, phụ thuộc vào dữ liệu thủ công, khó đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điều này làm tăng rủi ro không tuân thủ, bị phạt hoặc mất lợi thế xuất khẩu.

Tại thời điểm hiện nay, SHS thống kê, tính chung các dự án tín chỉ carbon tại Việt Nam là 492 dự án đã nộp, 331 dự án được đăng ký. Tín chỉ carbon hiện không còn là khái niệm xa vời mà đã trở thành một lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới, được thúc đẩy bởi các quy định bắt buộc từ Liên hợp quốc và Chính phủ.

Với tiềm năng "rừng vàng, biển bạc" cùng sự chuyển mình mạnh mẽ trong nông nghiệp carbon thấp và kinh tế tuần hoàn, Việt Nam đang nắm giữ cơ hội trở thành nguồn cung tín chỉ quan trọng trên bản đồ toàn cầu, SHS khẳng định.

Lộ trình phát triển thị trường carbon nội địa đã được xác lập rõ ràng. Cùng với đó, dù vẫn còn những thách thức về khoảng trống pháp lý hay quy trình xác thực theo tiêu chuẩn quốc tế, nhưng sự chủ động của Chính phủ qua các Nghị quyết và gói hỗ trợ lãi suất xanh chính là "đòn bẩy" để nhà đầu tư mạnh dạn dấn thân.

Năm 2025, Nghị quyết 198/2025/QH15 đã đưa ra các giải pháp cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp trong chuyển đổi xanh bằng gói Hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các khoản vay của doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân nhằm thực hiện dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn ESG.

Theo NHNN cho biết, hiện NHNN cũng đang tích cực hoàn thiện dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm đối với các khoản vay thực hiện dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn ESG theo chương trình của Nghị. Thông tin NHNN đưa ra đầu 2026, Dự thảo đã được Bộ Tư pháp thẩm định và dự kiến trình Chính phủ trong thời gian gần.

Song song đó, Bộ Tài chính cũng đang xây dựng Nghị định hỗ trợ lãi suất 2% thông qua Quỹ Phát triển DNNVV, tạo thêm một kênh dẫn vốn ưu đãi cho khu vực kinh tế tư nhân.

Các chính sách này được kỳ vọng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào dự án carbon, với cơ chế giảm chi phí lãi suất giúp nâng cao tính khả thi tài chính cho các dự án tạo tín chỉ. Một khi các doanh nghiệp có vốn, mạnh dạn đầu tư, sẽ tăng nguồn cung tín chỉ carbon, góp phần mở rộng quy mô và tính thanh khoản thị trường.

"Đầu tư vào dự án carbon ngay từ bây giờ không chỉ là thực hiện trách nhiệm môi trường mà còn là chiến lược "đi trước đón đầu" để làm chủ chuỗi giá trị xanh trong tương lai', chuyên gia SHS đánh giá.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Tín chỉ carbon Việt Nam - Lớp đầu tư tài sản tiềm năng mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO