Đến hết tháng 9, tổng giá trị trái phiếu Chính phủ huy động đạt 299.060 tỷ đồng, hoàn thành 60% kế hoạch phát hành năm 2026.
Kho bạc Nhà nước đã huy động thành công 12.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ trong phiên đấu thầu đầu tháng 10, cao hơn 4.000 tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu. Tính từ đầu năm, lượng vốn huy động đạt gần 300.000 tỷ đồng, tương đương 60% kế hoạch năm.
Cụ thể trong phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ ngày 7/10, Kho bạc Nhà nước (KBNN) dự kiến huy động 8.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, giá trị chào mua lên tới 17.600 tỷ đồng ngay trong đợt đầu tiên, tạo điều kiện để cơ quan phát hành mở thầu bổ sung 4.000 tỷ đồng.

Kết quả, tổng lượng trái phiếu huy động thành công đạt 12.000 tỷ đồng, với lãi suất trúng thầu 4,43%/năm. Đây là mức cao nhất kể từ năm 2023.
Đáng chú ý, nhu cầu mua tập trung vào trái phiếu kỳ hạn 10 năm. Đây cũng là kỳ hạn ghi nhận lượng chào mua vượt xa khối lượng gọi thầu, khiến Kho bạc Nhà nước tiếp tục huy động vượt kế hoạch ban đầu.
Theo dữ liệu thị trường, đây là lần thứ ba trong vòng một tháng qua trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm ghi nhận nhu cầu mua cao, thúc đẩy lượng phát hành tăng thêm so với kế hoạch.
Trên thị trường trái phiếu, kỳ hạn 10 năm được xem là kỳ hạn chuẩn trên đường cong lợi suất ở Việt Nam. Ở hầu hết thị trường phát triển, lợi suất kỳ hạn này phản ánh kỳ vọng dài hạn về lạm phát và tăng trưởng kinh tế vĩ mô.
Kỳ hạn 10 năm cũng được xem là điểm cân bằng giữa bên phát hành và nhà đầu tư. Đối với nhà phát hành, kỳ hạn 10 năm có khả năng hấp thụ nguồn cung lớn và giúp kéo dài thời gian trả nợ. Còn từ phía trái chủ, lợi suất 10 năm đang hấp dẫn sau nhịp tăng gần đây, trong khi rủi ro thấp hơn các kỳ hạn dài 15, 20 và 30 năm.
Theo dữ liệu của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), tháng trước, kỳ hạn 10 năm chiếm gần 62% giá trị trúng thầu, đạt hơn 41.500 tỷ đồng. Kho bạc Nhà nước không huy động được trái phiếu nào ở kỳ hạn 15 năm.
Số liệu từ Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) ghi nhận, lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 9, tổng giá trị trái phiếu Chính phủ huy động đạt 299.060 tỷ đồng, hoàn thành 60% kế hoạch phát hành năm 2026.
Cơ cấu phát hành tập trung chủ yếu ở hai kỳ hạn 10 năm và 5 năm. Trong tháng 9, trái phiếu kỳ hạn 10 năm đạt 44.403 tỷ đồng, chiếm 63,3% tổng khối lượng phát hành; kỳ hạn 5 năm đạt 25.651 tỷ đồng, tương ứng 36,6%.
KBNN gọi thầu tại 5 kỳ hạn gồm 3 năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm và 30 năm. Tuy nhiên, chỉ có ba kỳ hạn 5 năm, 10 năm và 30 năm trúng thầu. Lãi suất trúng thầu cuối tháng lần lượt là 4,27%/năm, 4,43%/năm và 4,62%/năm, đều tăng 0,02 điểm phần trăm so với phiên trúng thầu cuối tháng 8.
Trên thị trường thứ cấp, giá trị niêm yết trái phiếu Chính phủ tại thời điểm cuối tháng 9 đạt khoảng 2,81 triệu tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước. Giá trị giao dịch bình quân đạt 21.776 tỷ đồng mỗi phiên, tăng 26,7%.
Giao dịch mua bán thông thường chiếm 65,5% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường, trong khi giao dịch mua bán có cam kết mua lại chiếm 34,5%. Giá trị trái phiếu do nhà đầu tư nước ngoài giao dịch chiếm 2,5% tổng giá trị giao dịch; nhà đầu tư nước ngoài cũng bán ròng 80 tỷ đồng trong tháng.
Với diễn biến của thị trường, có thể thấy, lợi suất trái phiếu Chính phủ của Việt Nam vẫn đang ở mức ổn định, ít biến động so với lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và một số quốc gia.
Trong nhận định mới nhất của S&I Ratings, các nhà phân tích cho biết, những lo ngại về việc lạm phát giảm chậm hơn kỳ vọng đã nhanh chóng phản ánh vào thị trường trái phiếu toàn cầu trong tháng 9/2026, thúc đẩy làn sóng bán trái phiếu, khiến lợi suất trái phiếu chính phủ tăng trên diện rộng.
Trong bối cảnh đó, các nền kinh tế mới nổi sẽ phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, biến động tỷ giá và chi phí huy động vốn gia tăng.
Nhìn tổng quan trong cả quý III, S&I Ratings cho rằng, một diễn biến đáng chú ý là lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức thấp hơn đáng kể so với lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ.
"Nếu môi trường lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao trong thời gian dài, Việt Nam sẽ phải dựa nhiều hơn vào các lợi thế về tăng trưởng, cải cách thể chế và chất lượng tín dụng quốc gia để bù đắp cho bất lợi về chênh lệch lợi suất trong cuộc cạnh tranh thu hút vốn toàn cầu.
Hơn nữa, chênh lệch lãi suất bất lợi khiến áp lực lên tỷ giá USD/VND gia tăng, khiến NHNN phải cân nhắc giữa mục tiêu duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng và mục tiêu ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát nhập khẩu", chuyên gia cho biết.