Tâm điểm

Từ mùa thu Độc lập đến Nhà nước kiến tạo

Hạnh Lê thực hiện 02/09/2026 04:54

Triết lý xuyên suốt của mô hình phát triển kinh tế đất nước được xác lập từ mùa thu lịch sử năm 1945 là độc lập, tự chủ gắn với tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

bui anh tuan
TS Phạm Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

TS Phạm Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhấn mạnh: 81 năm sau ngày 2/9/1945, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, những giá trị căn cốt vẫn trường tồn và được nâng lên thành yêu cầu mới đối với quản trị quốc gia. Đó là xây dựng Nhà nước kiến tạo.

- Hơn 8 thập kỷ phát triển, mục tiêu căn cốt nào đến nay vẫn nguyên giá trị với phát triển kinh tế đất nước, thưa ông?

Giá trị căn cốt và cũng chính là triết lý xuyên suốt của mô hình phát triển kinh tế của đất nước, đó chính là độc lập, tự chủ gắn với tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Những năm gần đây, trước sự biến động của bối cảnh trong nước và quốc tế, giá trị đó tiếp tục được khẳng định trên 3 phương diện.

Trước hết, độc lập về chính trị phải được bảo đảm bằng năng lực tự chủ về kinh tế. Hội tụ đủ năng lực quốc gia là phương thức tốt nhất để chúng ta chủ động lựa chọn con đường phát triển và ứng phó với những cú sốc từ bên ngoài.

Bên cạnh đó, phát triển kinh tế hướng đến mục tiêu lớn nhất là nâng cao đời sống và năng lực phát triển của con người. Tăng trưởng GDP là một phương tiện quan trọng nhưng không phải mục tiêu cuối cùng của phát triển. Một mô hình phát triển tốt phải đồng thời tạo ra tăng trưởng, việc làm có chất lượng, cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở, môi trường sống tốt hơn và khả năng tham gia vào quá trình phát triển của mọi người dân.

Cuối cùng, phát huy nội lực nhưng không đối lập với ngoại lực. Thành công của Việt Nam trong 40 năm Đổi mới cho thấy chúng ta phát triển nhanh nhất khi biết kết hợp nguồn lực trong nước với thương mại, đầu tư, tri thức và công nghệ quốc tế.

Từ năm 2025, Việt Nam đã chính thức hoàn tất việc thiết lập quan hệ ngoại giao với toàn bộ 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc; ký kết 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với 65 đối tác; quy mô nền kinh tế trong nước đạt trên 500 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt trên 900 tỷ USD, nằm trong top 20 của thế giới. Những kết quả này phản ánh một nền kinh tế hội nhập rất sâu vào kinh tế thế giới.

hanh chinh cong
Từ chỗ đặt trọng tâm vào quản lý nền kinh tế, Nghị quyết 19 nhấn mạnh hơn chức năng kiến tạo năng lực phát triển của Nhà nước; đồng thời xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá.

- Những thành tựu rất đỗi tự hào đang đặt ra yêu cầu mới đối với quản trị Nhà nước: Nhà nước kiến tạo. Tinh thần này được thể hiện như thế nào, thưa ông?

Một trong những đổi mới quan trọng nhất của Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chính là thay đổi cách thức xác lập vai trò của Nhà nước trong phát triển. Từ chỗ đặt trọng tâm vào quản lý nền kinh tế, Nghị quyết 19 nhấn mạnh hơn chức năng kiến tạo năng lực phát triển của Nhà nước; đồng thời xác định đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá.

Nhà nước kiến tạo không phải làm thay thị trường, càng không phải Nhà nước can thiệp sâu hơn vào quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, Nhà nước kiến tạo biết xác định những việc thị trường có thể làm tốt và những việc Nhà nước nhất thiết phải làm tốt.

Trong mô hình đó, thị trường vẫn giữ vai trò quyết định trong huy động và phân bổ phần lớn các nguồn lực, Nhà nước tập trung vào những chức năng mà thị trường khó tự thực hiện như xây dựng thể chế, bảo đảm cạnh tranh, cung cấp hạ tầng và hàng hóa công, khắc phục thất bại thị trường, xử lý các vấn đề dài hạn và tạo dựng những năng lực chiến lược của quốc gia.

Thay đổi rất quan trọng tiếp theo là chuyển từ quản lý bằng quy trình sang quản trị bằng kết quả. Trong mô hình quản lý hành chính truyền thống, cơ quan công quyền thường chú trọng xem quy trình có được thực hiện đầy đủ hay không.

Trong Nhà nước kiến tạo, câu hỏi quan trọng hơn là: chính sách đó giải quyết được vấn đề gì, tạo thêm bao nhiêu giá trị, giảm bao nhiêu chi phí cho người dân và doanh nghiệp, và tác động cuối cùng đối với phát triển như thế nào? Gắn với đó là đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.

Thứ ba, thể chế từ khuôn khổ quản lý đã trở thành một nguồn lực cạnh tranh quốc gia. Trong nền kinh tế hiện đại, vốn và công nghệ có thể dịch chuyển rất nhanh; quốc gia nào có thể chế minh bạch, ổn định, bảo vệ tốt quyền tài sản, khuyến khích đổi mới và có khả năng xử lý nhanh các mô hình kinh doanh mới sẽ thu hút được các nguồn lực chất lượng cao. Nghị quyết đặt yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh và mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình mới.

- Nghị quyết 19-NQ/TW thể hiện khá rõ tư duy phân vai giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, đòi hỏi năng lực quản trị mới của Nhà nước, thưa ông?

Nhà nước chuyển từ quản lý theo các bộ phận hành chính tương đối biệt lập sang quản trị phát triển theo hệ sinh thái và dựa trên dữ liệu. Hiện nay, những vấn đề phát triển đều vượt ra khỏi ranh giới của một bộ, một ngành hoặc một địa phương. Vì vậy, năng lực điều phối chính sách trở thành một bộ phận rất quan trọng của năng lực Nhà nước hiện đại.

Bên cạnh đó, Nhà nước chủ động hình thành những năng lực phát triển mới và chuẩn bị thể chế, nhân lực, hạ tầng và hệ sinh thái cho những lĩnh vực đó. Đặc biệt, thước đo của Nhà nước kiến tạo không phải ban hành được bao nhiêu chính sách mà được đo bằng thể chế dẫn dắt doanh nghiệp phát triển thuận lợi, thúc đẩy sự sáng tạo của người dân, chuyển dịch nguồn lực đến nơi có năng suất cao hơn và nền kinh tế có khả năng thích ứng nhanh hơn trước những thay đổi của thế giới.

- Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế hiệu quả, theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những trụ cột nào?

Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, tự chủ kinh tế nên được hiểu là khả năng duy trì quyền lựa chọn chiến lược và duy trì các chức năng thiết yếu của nền kinh tế khi môi trường bên ngoài thay đổi.

Trụ cột đầu tiên, năng lực sản xuất và năng lực công nghệ trong nước, làm chủ hoặc có khả năng tiếp cận ổn định những công nghệ, đầu vào và hạ tầng có tính chiến lược. Việt Nam cần chuyển từ câu hỏi sản xuất được bao nhiêu sang câu hỏi giữ lại được bao nhiêu giá trị gia tăng, sở hữu được bao nhiêu công nghệ, thiết kế, dữ liệu, thương hiệu và năng lực tổ chức sản xuất. Đó mới là thước đo sâu hơn của năng lực tự chủ.

Trụ cột thứ hai, xây dựng khu vực doanh nghiệp trong nước đủ mạnh. Trong đó, phát triển đồng thời những doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị cùng hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn trong nước và FDI.

Trụ cột thứ ba, đa dạng hóa để giảm các điểm phụ thuộc chiến lược. Một nền kinh tế có ba hoặc bốn nguồn thay thế bao giờ cũng có khả năng tự chủ cao hơn một nền kinh tế phụ thuộc gần như tuyệt đối vào một nguồn, dù chi phí trong điều kiện bình thường có thể cao hơn một chút.

Trụ cột thứ tư, nâng cao sức chống chịu vĩ mô và tài chính thông qua duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn hệ thống tài chính, dư địa tài khóa, dự trữ ngoại hối hợp lý, kiểm soát tốt nợ và phát triển thị trường vốn trong nước. Những bộ đệm này chính là phần dự trữ năng lực của nền kinh tế khi xảy ra cú sốc.

Trụ cột cuối cùng và quyết định về dài hạn là năng lực thể chế và nguồn nhân lực - nền tảng hình thành năng lực quốc gia. Nghị quyết 19 đặt đổi mới thể chế, quản trị quốc gia, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp dẫn dắt vào nhóm nền tảng của mô hình phát triển mới.

Nghị quyết 19 cũng thể hiện khá chính xác cách tiếp cận này khi nhấn mạnh quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, đồng thời đặt yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và phục hồi của nền kinh tế.

- Trân trọng cảm ơn ông!

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Từ mùa thu Độc lập đến Nhà nước kiến tạo
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO