Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon” diễn ra ngày 17/4/2026 tại Khách sạn InterContinental Westlake, Hà Nội.
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, một trong số đó là phát triển thị trường mua bán tín chỉ các-bon.
Nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ và định hướng trên, được sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), sự đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác quốc tế, Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (DFAT) và Chương trình Aus4Growth, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Viện công nghệ và đổi mới sáng tạo doanh nghiệp thực hiện Diễn đàn:
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC DOANH NGHIỆP THAM GIA THỊ TRƯỜNG CÁC-BON
Thời gian: Thứ Sáu, ngày 17/4/2026
Địa điểm: Khách sạn InterContinental Hanoi Westlake, số 5 Từ Hoa, Tây Hồ, Hà Nội
Chương trình được triển khai với sự đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác quốc tế, Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (DFAT) và Chương trình Aus4Growth.

Tham dự Diễn đàn có: Ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); Bà Cecilia Brennan - Tham tán Kinh tế, ĐSQ Úc, đại diện Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc; Ông Lachlan Simpson: Tham tán, Đại sứ quán Úc, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước; Ông Lachlan Pontifex - Trưởng nhóm Aus4Growth.
Về phía các vụ, ban, ngành Trung ương có: Bà Vũ Thị Châu Quỳnh - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Tài chính; Ông Lê Thanh Hưng - Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Ông Phạm Nam Hưng - đại diện Cục Biến đổi Khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường; PGS.TS Lương Đức Long - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA); TS. Nguyễn Phương Nam - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp xanh TP HCM; PGS.TS Phạm Hoàng Lương - Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Phó Viện trưởng Viện Tăng trưởng xanh và Phát triển bền vững; Bà Tạ Thanh Bình - Tổng Giám đốc, Tổng Công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam
Diễn đàn còn có sự tham gia của lãnh đạo, đại diện các sở ngành, các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp trong nước và quốc tế, hiệp hội ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp các địa phương, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chuyên gia, nhà nghiên cứu.
Về phía ban tổ chức có: Nhà báo Nguyễn Linh Anh - Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Nguyễn Trung Thực - Viện trưởng Viện công nghệ và đổi mới sáng tạo doanh nghiệp - VCCI.
Ban tổ chức trân trọng cảm ơn các đơn vị đồng hành: Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí; CTCP Lọc hóa Dầu Bình Sơn; Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (DFAT); Chương trình Aus4Growth.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhấn mạnh, chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử của nền kinh tế toàn cầu.

Trong đó, chuyển đổi xanh không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành một điều kiện tiên quyết, một "giấy thông hành" để doanh nghiệp Việt Nam tiến xa ra biển lớn cũng như hội nhập thị trường.
Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những định hướng chiến lược mang tính đột phá. Chúng ta có Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, xác định đây là động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế, yêu cầu chúng ta phải chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe hơn bao giờ hết. Và đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW đã khẳng định khu vực kinh tế tư nhân cùng các Nghị quyết quan trọng khác là động lực quan trọng, tạo điều kiện để nâng cao năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên xanh.

Với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, Chính phủ đã tin tưởng giao nhiệm vụ cho VCCI chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường các-bon. Đồng thời huy động cộng đồng doanh nghiệp thực hiện kiểm kê khí nhà kính và thúc đẩy kết nối quốc tế để trung hòa các-bon.
Trên thực tế, thị trường các-bon không chỉ là nơi đóng phí cho khí thải, mà là nơi tôn vinh những doanh nghiệp tiên phong trong công nghệ sạch. Một tín chỉ các-bon được tạo ra là kết quả của sự đổi mới sáng tạo, là minh chứng cho hiệu quả quản trị và là tài sản có giá trị kinh tế thực tế.
“Tham gia thị trường này sẽ giúp doanh nghiệp đạt được nhiều mục tiêu chiến lược và thực tiễn là tối ưu hóa chi phí vận hành thông qua tiết kiệm năng lượng; nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín trên thị trường quốc tế; và tiếp cận nguồn tài chính xanh từ các ngân hàng và quỹ đầu tư uy tín hàng đầu tại Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên quy trình thực hiện cần được đảm bảo pháp luật và những quy định chặt chẽ”, ông Hoàng Quang Phòng lưu ý.

Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, VCCI tổ chức Diễn đàn này với mục tiêu cốt lõi là "Nâng cao năng lực thực tiễn". Chúng tôi không chỉ muốn thảo luận về lý thuyết mà muốn đi sâu vào các giải pháp cụ thể, thứ nhất, tháo gỡ rào cản thông tin. Giúp các doanh nghiệp hiểu rõ "luật chơi" trong giai đoạn thí điểm, đồng thời tiếp cận các cơ chế quốc tế như Điều 6 Hiệp định Paris và Thị trường các-bon tự nguyện (VCM).
Thứ hai, kết nối cung - cầu. Tạo nền tảng để các đơn vị phát triển dự án trong nước gặp gỡ trực tiếp các bên mua tín chỉ quốc tế, để chúng ta biết rõ họ kỳ vọng gì, tiêu chuẩn của họ khắt khe ra sao.
Thứ ba, học hỏi thực tiễn. Thông qua các chia sẻ từ chuyên gia Úc và các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cái nhìn thực tế về việc thiết kế một dự án có tính toàn vẹn cao, từ lúc khởi tạo đến khi phát hành tín chỉ.
.jpg)
“Do đó, chúng tôi cũng kỳ vọng nhận được những ý kiến phản hồi thẳng thắn từ phía doanh nghiệp về những khó khăn trong kiểm kê khí nhà kính, trong việc tiếp cận hạn ngạch phát thải. Những ý kiến này sẽ được VCCI tổng hợp để khuyến nghị tới các cơ quan có thẩm quyền, nhằm hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, thân thiện với doanh nghiệp và nhà đầu tư”, ông Hoàng Quang Phòng chia sẻ.
Đồng thời khẳng định, hành trình tiến tới Net Zero là một hành trình dài và không thể đi đơn lẻ. VCCI đánh giá cao sự hỗ trợ của Dự án Aus4Growth và Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) cũng như cộng đồng doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch VCCI tin tưởng với sự góp mặt của các chuyên gia hàng đầu, các doanh nghiệp chương trình Diễn đàn hôm nay sẽ mang lại những kiến thức thực chiến nhất cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp Việt vững vàng tâm thế đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Phát biểu tại Diễn đàn, bà Cecilia Brennan, Tham tán Kinh tế, Đại sứ quán Australia, Đại diện Bộ Thương mại và Ngoại giao Australia cho biết, đây một thời điểm hết sức quan trọng khi Việt Nam đã đạt được những tiến triển đáng kể trong việc xây dựng nền tảng pháp lý và thể chế cho thị trường các-bon trong nước, và hiện nay trọng tâm đang chuyển sang giai đoạn triển khai.

Theo Tham tán Đại sứ quán Australia, một hệ thống tín chỉ các-bon vận hành hiệu quả có thể đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực tài chính, thúc đẩy giảm phát thải với chi phí hợp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các mục tiêu phát triển dài hạn và khí hậu của Việt Nam.
Đối với doanh nghiệp, quá trình chuyển đổi này vừa đặt ra những yêu cầu mới, vừa mở ra nhiều cơ hội đáng kể để đổi mới sáng tạo, củng cố vị thế thị trường, thu hút đầu tư và tự tin tham gia cả thị trường các-bon trong nước và quốc tế.
Bà Brennan cho biết, Australia tự hào là đối tác lâu dài, tin cậy của Việt Nam. Trong hơn 50 năm qua, Australia đã đóng góp hơn 3 tỷ AUD cho sự phát triển của Việt Nam, với trọng tâm xuyên suốt là tăng trưởng kinh tế bền vững và phát triển nguồn nhân lực.
Kể từ khi hai nước cùng cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, hợp tác trong các lĩnh vực khí hậu, môi trường và năng lượng đã trở thành một trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương.
Để hiện thực hóa các cam kết chiến lược, bà Brennan cho biết, Australia đã và đang hợp tác chặt chẽ với Việt Nam thông qua nhiều nền tảng kỹ thuật và tài chính.
Thông qua Chương trình Nền tảng Đối tác Doanh nghiệp (BPP), Australia đã đầu tư gần 10 triệu AUD vào Việt Nam kể từ năm 2016. Năm 2022, chương trình đã triển khai nhiều sáng kiến hợp tác đa bên nhằm thử nghiệm các mô hình mới trong thị trường các-bon tự nguyện, như các giải pháp dựa vào thiên nhiên và sản xuất lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Cụ thể, chương trình hỗ trợ sản xuất lúa phát thải thấp thông qua tài chính mục tiêu, nghiên cứu ứng dụng và hợp tác kỹ thuật, tiêu biểu là dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo. Thông qua Quan hệ Đối tác Tài chính Khí hậu Australia (ACFP), Australia đã thúc đẩy huy động đầu tư tư nhân và giảm thiểu rủi ro cho các dự án khí hậu do doanh nghiệp Việt Nam triển khai, trong đó có hỗ trợ tài chính ưu đãi cho một doanh nghiệp sản xuất xe điện trong nước nhằm triển khai đội xe buýt điện đầu tiên tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Australia cũng hỗ trợ xây dựng các nền tảng trồng và chế biến gỗ tích hợp tại Lào và Campuchia, với Việt Nam là trung tâm.
Bà Brennan chia sẻ, thông qua chương trình Aus4Innovation kéo dài 10 năm với tổng kinh phí 33,5 triệu AUD đang tăng cường hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam, bao gồm các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu có khả năng tạo tín chỉ các-bon.
Trong lĩnh vực tài chính, Australia cũng đã có những đóng góp đáng kể vào quỹ cho vay uỷ thác do VPBank triển khai nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng bền vững, qua đó củng cố hệ sinh thái tài chính cho thị trường các-bon.
Ở cấp độ chính sách và thể chế, bà Brennan nhận định, việc hợp tác với các đối tác như UNOPS để triển khai Quan hệ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng cung cấp hỗ trợ tổng thể về chính sách, pháp lý, kỹ thuật, tài chính và nâng cao năng lực.
Tham tán Kinh tế Australia nhấn mạnh, Australia tiếp tục cam kết mạnh mẽ trong việc hỗ trợ Việt Nam phát triển thị trường các-bon thông qua các hợp tác thiết thực.
.jpg)
Hiện nay, gần 1/3 lượng phát thải toàn cầu đã được bao phủ bởi các cơ chế định giá các-bon. Dù định giá các-bon là công cụ hiệu quả, nhưng các yêu cầu về tính liêm chính, minh bạch và chất lượng dự án đang ngày càng cao.
Bà Brennan nhấn mạnh, việc hỗ trợ doanh nghiệp hiểu và thích nghi với các yêu cầu này là vô cùng thiết yếu.
Trong đó, các nội dung thảo luận về thực thi chính sách, mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp, phát triển dự án và tiếp cận thị trường không chỉ mang tính kỹ thuật, mà còn nhằm xây dựng niềm tin, năng lực và sự tin cậy, trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị vận hành thí điểm thị trường các-bon trong thời gian tới.
Khuôn khổ thị trường các-bon của Australia cũng đang tiếp tục hoàn thiện. Dù kinh nghiệm không phải là khuôn mẫu chung cho mọi quốc gia do một số điều kiện, cơ cấu kinh tế và ưu tiên chính sách riêng biệt, tuy nhiên, bà Brennan cho biết, Australia luôn sắn sàng chia sẻ hành trình và các nhiều bài học thực tiễn cho Việt Nam.
Tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”, ông Phạm Nam Hưng - Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam đã trải qua một chặng đường chuẩn bị tương đối dài để tiến tới xây dựng và vận hành thị trường các-bon, gắn với các cam kết giảm phát thải khí nhà kính và mục tiêu phát triển bền vững.

Theo ông Hưng, ngay từ giai đoạn 2012-2013, Chính phủ đã bắt đầu các bước chuẩn bị nền tảng cho công tác giảm phát thải. Đến năm 2015, Việt Nam đưa ra cam kết quốc tế đầu tiên về giảm phát thải khí nhà kính và đến năm 2021 tiếp tục nâng mức cam kết với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0”. Quá trình này cho thấy Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc thích ứng với biến đổi khí hậu, mà đã chuyển sang giai đoạn chủ động đóng góp vào nỗ lực toàn cầu nhằm ứng phó với khủng hoảng khí hậu.
Dù vậy, thị trường các-bon vẫn là một khái niệm tương đối mới đối với Việt Nam. Trên thế giới, cơ chế này đã hình thành và phát triển từ đầu những năm 1990, với hơn 30 năm kinh nghiệm tìm kiếm các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính. Trong khi đó, Việt Nam mới ở giai đoạn đầu tiếp cận và xây dựng hệ thống, đòi hỏi quá trình học hỏi, thử nghiệm và điều chỉnh phù hợp với điều kiện trong nước.

Ông Phạm Nam Hưng cho biết thị trường các-bon được cấu thành từ hai loại hàng hóa chính là hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon. Trong đó, hạn ngạch phát thải là lượng phát thải khí nhà kính được Chính phủ phân bổ cho doanh nghiệp, còn tín chỉ các-bon là sự ghi nhận kết quả giảm phát thải từ các dự án cụ thể. Thị trường các-bon hình thành khi xuất hiện hệ thống trao đổi hạn ngạch và cơ chế bù trừ tín chỉ, qua đó tạo ra một công cụ kinh tế để điều tiết phát thải, đồng thời mở ra kênh huy động nguồn lực tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải.
Tại Việt Nam, thị trường các-bon đã có hơn 10 năm chuẩn bị và chính thức được triển khai từ năm 2020, phục vụ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính theo các cam kết quốc tế. Đây được xác định là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó các doanh nghiệp phát thải lớn đóng vai trò then chốt. Việc tham gia thị trường các-bon không chỉ giúp thực hiện nghĩa vụ môi trường, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh ngày càng trở nên phổ biến.
Để hoàn thiện hành lang pháp lý và tạo điều kiện vận hành thị trường, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng. Đáng chú ý là Nghị định 119/2025/NĐ-CP, trong đó quy định chi tiết hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ chế phân bổ hạn ngạch phát thải. Bên cạnh đó là Nghị định 29/2026/NĐ-CP về việc hình thành sàn giao dịch các-bon nội địa, cùng với Nghị định 112/2026/NĐ-CP liên quan đến trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon. Đây được xem là những văn bản nền tảng để thị trường các-bon tại Việt Nam có thể vận hành một cách đồng bộ và hiệu quả.
Về cấu trúc thị trường hiện nay, ông Hưng cho biết: “Việt Nam đang xây dựng trên ba trụ cột chính: thứ nhất là hệ thống hạn ngạch phát thải, tập trung vào ba ngành có lượng phát thải lớn gồm nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Hạn ngạch được phân bổ chi tiết đến từng doanh nghiệp, gắn với cường độ phát thải và có tính linh hoạt cao, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp thích ứng. Đây cũng là điểm khác biệt của Việt Nam so với một số mô hình quốc tế. Thứ hai là việc xây dựng hệ thống tín chỉ các-bon trong nước nhằm phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời tạo nguồn cung tín chỉ nội địa. Thứ ba là định hướng thu hút nguồn lực đầu tư quốc tế thông qua việc phát triển cơ chế trao đổi tín chỉ các-bon xuyên biên giới”.
.jpg)
Về lộ trình phát triển, giai đoạn từ năm 2026 đến 2028 được xác định là giai đoạn thí điểm. Mục tiêu của giai đoạn này là giúp doanh nghiệp làm quen với cơ chế thị trường, đồng thời để cơ quan quản lý tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện hệ thống hạ tầng. Ông Hưng nhấn mạnh rằng khoảng thời gian vài năm là không dài so với kinh nghiệm quốc tế, khi nhiều quốc gia đã mất hơn một thập kỷ để hoàn thiện thị trường các-bon. Việc học hỏi là cần thiết, nhưng không thể áp dụng nguyên mẫu từ nước ngoài do mỗi thị trường đều có đặc thù riêng.
Sau giai đoạn thí điểm, Chính phủ sẽ tiến hành tổng kết, đánh giá để quyết định phương án vận hành chính thức, đồng thời xem xét khả năng kết nối với thị trường các-bon quốc tế. Trong ngắn hạn, khoảng 4-5 tháng tới sẽ là thời điểm quan trọng để đánh giá bước đầu hiệu quả của thị trường, bao gồm khả năng giảm phát thải, thu hút đầu tư và chất lượng tín chỉ các-bon. Một trong những vấn đề được đặt ra là làm sao đảm bảo tín chỉ có chất lượng thực sự, cũng như dòng tài chính từ thị trường được quay trở lại phục vụ các dự án giảm phát thải trong nước.
Về dài hạn, sau năm 2030, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện thị trường các-bon, xây dựng các công cụ điều tiết và thúc đẩy hợp tác song phương. Đồng thời, việc xây dựng tiêu chuẩn thị trường các-bon trong nước cũng được đặt ra, trong bối cảnh thị trường toàn cầu hiện nay phần lớn do các quốc gia phát triển chi phối. Mục tiêu là hình thành một thị trường phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia, vừa đóng góp hiệu quả vào nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu.
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Đỗ Thanh Lâm, Đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính cho biết, việc thiết lập và vận hành sàn giao dịch các-bon nội địa là nhiệm vụ trọng tâm nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế và mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Đây là một phần trong chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Về hành lang pháp lý, ông Lâm nhấn mạnh, thị trường các-bon Việt Nam được vận hành dựa trên một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành chặt chẽ. Trọng tâm là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/01/2026, quy định trực tiếp về việc thành lập và vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước.

Bên cạnh đó, các văn bản nền tảng bao gồm Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2026/NĐ-CP) quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. Các quyết định chiến lược của Thủ tướng Chính phủ như Quyết định số 888/QĐ-TTg phê duyệt Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị COP26 và Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam cũng đóng vai trò định hướng quan trọng cho các hoạt động thực thi. Toàn bộ hệ thống pháp luật này nhằm tạo ra cơ chế xác định giá hiệu quả, đảm bảo giao dịch minh bạch, công bằng và tạo động lực kinh tế thúc đẩy giảm phát thải.
Về nguyên tắc chung, ông Đỗ Thanh Lâm nhấn mạnh, Nghị định 29/2026/NĐ-CP được xây dựng nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quản lý nhà nước và phù hợp với lộ trình cam kết quốc tế. Việc vận hành sàn giao dịch dựa trên tiêu chí minh bạch, công bằng, an toàn và quản lý rủi ro chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi các bên tham gia. Đặc biệt, các chủ thể tham gia giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước có trách nhiệm tìm hiểu quy định pháp luật, thông tin về hàng hóa và tự chịu trách nhiệm đối với quyết định mua, bán của mình...
Theo mô hình hoạt động được đề xuất, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ đóng vai trò đơn vị cung cấp dịch vụ giao dịch, trong khi Tổng Công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam đảm nhận dịch vụ lưu ký và thanh toán.
Đáng chú ý, chuyên gia nhấn mạnh chỉ có 3 nhóm tín chỉ các-bon đủ điều kiện được đưa vào giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước, bao gồm tín chỉ từ cơ chế trao đổi, bù trừ trong nước; tín chỉ các-bon song phương hoặc đa phương giữa Chính phủ Việt Nam và các bên ký kết nước ngoài theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris; và cuối cùng là các loại tín chỉ hình thành từ cơ chế theo Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris.
Một điểm kỹ thuật quan trọng là toàn bộ hàng hóa phải được đăng ký tập trung và ký gửi trên Hệ thống đăng ký quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường vận hành trước khi đưa vào lưu ký hay giao dịch chính thức

Theo Đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính, trong giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết ngày 31/12/2028, các đơn vị hạ tầng như VSDC, VNX và HNX sẽ không thu tiền cung cấp dịch vụ để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ thể tham gia. Đây cũng là khoảng thời gian để các cơ quan quản lý tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách về tài chính và các sản phẩm phái sinh mới cho thị trường. Phương thức giao dịch ban đầu dự kiến là giao dịch thỏa thuận trên nền tảng điện tử, với yêu cầu nghiêm ngặt về việc kiểm soát số dư tiền và hàng hóa trước khi đặt lệnh để đảm bảo tính an toàn cho hệ thống.
Để sẵn sàng tham gia thị trường các-bon, ông Đỗ Thanh Lâm khuyến nghị, các chủ thể liên quan cần chủ động chuẩn bị cả về pháp lý, năng lực quản trị và hạ tầng kỹ thuật.
Đối với các doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính hoặc sở hữu tín chỉ các-bon, trước hết cần nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật liên quan, từ đó xây dựng phương án quản trị hạn ngạch và tín chỉ một cách bài bản. Đồng thời, doanh nghiệp nên chủ động nâng cao năng lực tham gia thị trường, xây dựng chiến lược giao dịch phù hợp nhằm tối ưu chi phí tuân thủ. Việc lựa chọn công ty chứng khoán uy tín để hỗ trợ giao dịch và mở tài khoản cũng là bước đi cần thiết.
.jpg)
Với các công ty chứng khoán, yêu cầu đặt ra là sớm cập nhật đầy đủ khung pháp lý cũng như các quy chế, quy trình nghiệp vụ do Sở Giao dịch Chứng khoán và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam ban hành. Song song với đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ tham gia hệ thống giao dịch, lưu ký và thanh toán các-bon; đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, đồng thời xây dựng tệp khách hàng tiềm năng.
Cuối cùng, với các doanh nghiệp chưa được phân bổ hạn ngạch hoặc chưa sở hữu tín chỉ các-bon nhưng có nhu cầu tham gia thị trường, ông Lâm nhấn mạnh, cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật, lựa chọn đơn vị trung gian phù hợp để hỗ trợ giao dịch và mở tài khoản. Bên cạnh đó, việc cập nhật xu hướng thị trường và xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả khi tham gia thị trường mới mẻ này.
Phát biểu tại Diễn đàn, ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước cho biết, kinh nghiệm của Australia cho thấy thị trường các-bon không thể được xây dựng trong một sớm một chiều, mà cần phát triển theo thời gian thông qua các cách tiếp cận chính sách khác nhau.

Chính điều này khiến Australia trở thành một trường hợp tham chiếu hữu ích, khi chúng tôi đã thử nghiệm nhiều mô hình khác nhau với thông điệp cốt lõi là quá trình hoạch định và triển khai cần thời gian.
Ông Simpson cho biết, bài học cần lưu ý là thể chế, lộ trình triển khai và tính tin cậy quan trọng hơn bất kỳ thiết kế chính sách đơn lẻ nào.
Hiện nay, thị trường các-bon đã trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống kinh tế toàn cầu khi không chỉ gắn với các cam kết khí hậu mà còn liên quan trực tiếp đến thương mại và tài chính.
Các cơ chế như điều chỉnh biên giới các-bon của EU (CBAM) đang gắn các-bon với năng lực cạnh tranh thương mại. Đồng thời, Điều 6 của Thỏa thuận Paris mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính các-bon toàn cầu, hỗ trợ các quốc gia thực hiện các cam kết khí hậu.
Tuy nhiên, ông Simpson nhận định thách thức lớn hiện nay không phải là nhu cầu, mà là nguồn cung tín chỉ các-bon có độ tin cậy cao, được bảo đảm bởi các hệ thống quản lý chặt chẽ.
Australia không áp dụng một mô hình duy nhất, mà trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh chính sách. Dù có nhiều thay đổi, nền tảng cốt lõi, bao gồm quản trị, hệ thống báo cáo phát thải và khung pháp lý luôn được duy trì ổn định. Ông Simpson nhấn mạnh: "Chính những yếu tố này tạo dựng niềm tin thị trường và đảm bảo tính bền vững".
Trong hơn một thập kỷ, Australia đã chuyển từ các hệ thống cấp bang sang khung quốc gia, từ cơ chế định giá các-bon sang Quỹ Giảm phát thải, và hiện nay là Cơ chế Safeguard tập trung vào các cơ sở phát thải lớn.
Cụ thể, chính sách của Chính phủ Australia nhắm đến việc giảm phát thải tại các cơ sở phát thải nhiều nhất của quốc gia này như cơ sở khai thác mỏ, sản xuất dầu khí, sản xuất công nghiệp, vận tải và xử lý chất thải.
Với số lượng hơn 200 doanh nghiệp được yêu cầu giảm lượng khí thải phù hợp với các mục tiêu giảm phát thải của Australia. Các cơ sở này phải tuân thủ lộ trình giảm phát thải phù hợp với mục tiêu quốc gia vào các mốc 2030, 2035, hướng đến mục tiêu đạt mức phát phải ròng bằng 0 trong năm 2050.
Theo ông Simpson, các cơ sở này đã được cung cấp mức phát thải cơ bản giảm dần theo thời gian và họ có thể giảm phát thải trực tiếp hoặc mua tín chỉ phát thải để quy định này. Điều này sẽ tạo được sự linh hoạt và thúc đẩy việc giảm chi phí.

Một điểm then chốt là hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) chặt chẽ, được quản lý ở cấp quốc gia. Đây là nền tảng cốt lõi giúp thị trường các-bon vận hành hiệu quả.
Thực tiễn của Australia cho thấy bốn yếu tố quan trọng gồm: hệ thống quản trị mạnh mẽ và các cơ chế vững chắc; thứ 2 là hệ thống dữ liệu mạnh mẽ nhằm đảm bảo tính đáng tin cậy; thứ 3 là các động lực rõ ràng, đặc biệt là khi có các chính sách về giá cả giúp thúc đẩy các thay đổi về hành vi của các bên liên quan tham gia. Và cuối cùng là tính linh hoạt thông qua các khoản tín dụng cho phép các công ty quản lý chi phí.
"Những yếu tố này khi được kết hợp lại đã tạo ra môi trường hiệu quả cho thị trường các-bon được vận hành", Tham tán Đại sứ quán Australia nói.
.jpg)
Tuy nhiên, ông Simpson chỉ ra, việc vận hành cũng không thiếu những thách thức. Sự bất ổn về chính sách đã tạo ra sự lo lắng về tính không chắn và khiến cho các hoạt động đầu tư kém hấp dẫn với nhà đầu tư. Và những lo ngại về tính toàn vẹn của một số những chứng chỉ tín chỉ các-bon, cũng những nguy cơ dựa quá nhiều vào các biện pháp bù trừ thay vì thực sự rác thải. Những vấn đề này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của tình đáng tin cậy và sự cân bằng trong thiết kế hệ thống tín chỉ các-bon.
Ông Simpson nhận định, Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển sớm, điều này tạo ra cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quốc tế bao gồm những kinh nghiệm từ Australia.
Theo đó, trọng tâm trước hết là xây dựng hệ thống MRV mạnh, thiết lập thể chế quản lý hiệu quả, triển khai thí điểm và từng bước mở rộng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Điều 6 của Thỏa thuận Paris cũng mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính quốc tế, nếu được chuẩn bị tốt từ sớm.
Tại Diễn đàn, chia sẻ về thực trạng ngành hiện nay, PGS TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) cho biết, xi măng là vật liệu nền của phát triển hạ tầng, do đó giảm phát thải phải đi cùng bảo đảm an ninh vật liệu xây dựng.
Từ năm 2025 - 2026, ngành xi măng bước vào giai đoạn thí điểm hạn ngạch phát thải, cùng với đó là yêu cầu về MRV, hiệu suất và lộ trình giảm phát thải trở thành áp lực trực tiếp.
“Xi măng là 1 trong 3 ngành vừa được giao thí điểm hạn ngạch các – bon. Trong đó 51/61 doanh nghiệp xi măng trong nước cần kiểm kê phát thải năm 2025- 2026. Hạn ngạch của ngành xi măng tương đương khoảng 28,8% tổng hạn ngạch năm 2025 và 28,1% năm 2026”, ông Long cho biết.

Thực tế, năm 2025, sản lượng xi măng đạt 96,36 Mt. Hạn ngạch phát thải của ngành xi măng năm 2025 là 69,94 MtCO₂tđ, trong khi đó, thực tế phát thải ước tính khoảng 84,0 MtCO₂.
Do đó, vị chuyên gia nhận định, ba đòn bẩy gần hạn là giảm clinker factor, nâng hiệu suất nhiệt–điện và tăng nhiên liệu thay thế, CCS/CCU là giải pháp dài hạn cho phần phát thải khó tránh.
Ông Long nhấn mạnh, xi măng là vật liệu nền tảng của phát triển hạ tầng, vì xi măng đi vào nhà ở, giao thông và logistics, thủy lợi, năng lượng và quốc phòng, công nghiệp & đô thị. Do đó, lộ trình Net Zero của ngành phải gắn với an ninh vật liệu xây dựng và năng lực cung ứng trong nước.
Trên thực tế, Việt Nam là nước sản xuất xi măng thứ 3 thế giới. Thống kê từ Bộ Xây dựng, năm 2025 sản lượng xi măng và clinker cả nước ước đạt khoảng 104 triệu tấn, tổng tiêu thụ khoảng 112 triệu tấn.
Đáng lưu ý, trong sản xuất xi măng, ba nguồn phát thải trọng yếu gồm: Một là, nguyên liệu/phản ứng phân hủy đá vôi ≈ 525 kg CO₂/tấn clinker theo IPCC. Hai là, phát thải từ nhiên liệu nung clinker. Phụ thuộc loại nhiên liệu, suất tiêu hao nhiệt và tỷ lệ nhiên liệu thay thế. Ba là, nguồn gián tiếp từ điện. Tỷ lệ phụ thuộc cường độ điện năng của dây chuyền và hệ số phát thải của lưới điện quốc gia.
Đơn cử, nếu dùng hệ số lưới điện 2023 do Cục Biến đổi khí hậu công bố (0,6592 tCO₂/MWh), ước tính lượng phát thải năm 2025 cho sản xuất xi măng và linker sẽ khoảng 84,02 MtCO₂/năm. Trong đó, 55% phát thải đến từ phản ứng phân hủy nguyên liệu – phần phát thải khó tránh nếu vẫn sản xuất clinker truyền thống; Khoảng 38% đến từ nhiên liệu; đây là nơi hiệu suất nhiệt và nhiên liệu thay thế có thể tạo khác biệt rõ trong ngắn hạn. Và điện chỉ chiếm khoảng 7%, nên tiết kiệm điện là cần thiết nhưng không đủ để đạt mức giảm sâu.
Từ thực tế này, ông Long nhận định, để đi xa hơn mức giảm cận biên, ngành phải song song giảm clinker factor và chuẩn bị công nghệ thu giữ các-bon.

Trong khi đó, dư địa giảm phát thải trong sản xuất clinker là có giới hạn. Ngay cả khi tối ưu tiêu hao nhiệt, phát thải do phản ứng hóa học vẫn tạo ra “sàn phát thải” khoảng 525 kg CO₂/tấn clinker. Tối ưu vận hành chỉ giải quyết phần phát thải nhiên liệu và không thể thay thế vai trò của clinker substitution hoặc CCS/CCU. Do đó, nhiên liệu thay thế giảm phần phát thải nhiên liệu, nhưng không triệt tiêu calcination.
Từ thực tế này, Phó Chủ tịch VNCS nhận định, giảm clinker factor là đòn bẩy trong ngắn – trung hạn hiệu quả. Theo đó, giảm tỷ lệ clinker trong xi măng hỗn hợp cắt trực tiếp phát thải quy trình – thành phần lớn nhất của toàn chuỗi. Điều kiện để mở rộng là nguồn phụ gia khoáng ổn định, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng và kiểm chứng độ bền lâu công trình. LC3, đá vôi, đất sét nung, xỉ hạt lò cao và pozzolan là các hướng cần đánh giá theo từng vùng nguyên liệu.
Về giải pháp giảm phát thải cho ngành xi măng, ông Long nhấn mạnh, trong ngắn hạn (2025–2030) cần tối ưu nhiệt – điện, tận dụng nhiệt thải, tăng nhiên liệu thay thế, số hóa vận hành và MRV.
Từ ngắn đến trung hạ, cần giảm clinker factor, mở rộng xi măng hỗn hợp, chuẩn hóa phụ gia khoáng và cơ chế kiểm định chất lượng.
Trong trung hạn, LC3, belite clinker, geopolymer và các chất kết dính mới trong các phân khúc ứng dụng phù hợp.
Về dài hạn, CCS/CCU cho phần phát thải khó tránh và tích hợp với thị trường các-bon khi hạ tầng pháp lý đủ chín.

Để thực hiện các giải pháp trên, PGS TS Lương Đức Long nhấn mạnh điều kiện nền cần có là chuẩn hóa dữ liệu, phát triển tiêu chuẩn – quy chuẩn, thiết kế cơ chế tài chính các-bon và hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Chia sẻ bài học từ lộ trình giảm phát thải của ngành xi măng Thái Lan, Phó Chủ tịch VNCA đề xuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nên phân kỳ theo độ sẵn sàng công nghệ và chi phí tuân thủ.
Cụ thể, giai đoạn đầu tập trung vào hiệu suất năng lượng, giảm clinker factor và tăng nhiên liệu thay thế. Giai đoạn giữa mở rộng các vật liệu xi măng các-bon thấp và hạ tầng đo đạc – báo cáo – thẩm định. Giai đoạn sau mới dựa nhiều vào CCS/CCU để xử lý phần phát thải khó tránh còn lại.
.jpg)
Cách triển khai lộ trình nên theo 3 lớp, trọng tâm là quyết định đầu tư 5–10 năm tới, không chỉ đích 2050. Trong đó, đến 2030: tập trung “no-regret options” – hiệu suất, WHR, nhiên liệu thay thế, giảm clinker factor, chuẩn hóa MRV.
Từ năm 2030–2040: thúc đẩy xi măng các-bon thấp, vật liệu kết dính mới ở phân khúc phù hợp và cơ chế định giá các-bon. Sau 2040: CCS/CCU và các giải pháp khó tránh cần được kích hoạt khi công nghệ, hạ tầng và tài chính chín muồi.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, mọi lộ trình giảm phát thải phải bắt đầu từ bộ dữ liệu đầu vào đáng tin cậy và nhất quán. Cần ưu tiên giải pháp gần hạn, hiệu suất, giảm clinker factor và nhiên liệu thay thế là các hạng mục nên triển khai ngay. Cần chuẩn bị cho công nghệ sâu, CCS/CCU cần được nghiên cứu từ sớm vì đây là chìa khóa cho phần phát thải khó tránh. Đặc biệt, gắn Net Zero với chính sách công nghiệp, giảm phát thải phải song hành với an ninh vật liệu xây dựng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Điều phối phiên thảo luận: PGS. Phạm Hoàng Lương - Giảng viên cao cấp và Trưởng Nhóm chuyên môn Hệ thống năng lượng - Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam.
Khách mời:


Trao đổi về nội dung này, ông Phạm Nam Hưng - Đại diện Cục Biến đổi Khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng việc xác định phát thải là nền tảng cốt lõi để vận hành thị trường các-bon, bởi cần làm rõ từng doanh nghiệp đang phát thải ở mức nào và theo cách nào.

Ông Hưng cho biết, trước đây công tác kiểm kê chủ yếu thực hiện ở cấp quốc gia theo phương pháp “từ trên xuống”, dựa trên số liệu thống kê tổng hợp, tuy nhiên cách tiếp cận này không còn phù hợp khi áp dụng cho doanh nghiệp. Thay vào đó, kiểm kê cần được triển khai ở cấp cơ sở, chi tiết đến từng công đoạn sản xuất, với mỗi khâu có phương pháp tính và hệ số phát thải riêng.
Theo ông Hưng, Việt Nam đã có nghiên cứu và ban hành một số hệ số phát thải quốc gia, song phạm vi vẫn còn hạn chế và chưa bao phủ hết các lĩnh vực. Bên cạnh đó, đặc thù của nhiều ngành là phát thải gián tiếp thông qua tiêu thụ điện năng, thay vì phát thải trực tiếp như ở một số lĩnh vực như xi măng. Vì vậy, việc xây dựng và cập nhật hệ số phát thải của lưới điện đóng vai trò quan trọng trong việc tính toán phát thải cũng như xây dựng các kịch bản cho dự án giảm phát thải và tín chỉ các-bon.
Đối với thị trường các-bon tuân thủ, việc phân bổ hạn ngạch phát thải sẽ dựa trên phát thải trực tiếp trong quá trình sản xuất. Hiện nay, ở một số ngành như xi măng và nhiệt điện, các chỉ số phát thải cần được cụ thể hóa theo từng loại công nghệ và nguyên liệu đầu vào, như các loại than hoặc dầu khác nhau.
Ông Hưng cho biết trong thời gian tới, hệ thống này sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chi tiết hơn, đồng thời công tác kiểm kê cũng đang được số hóa thông qua việc xây dựng hệ thống báo cáo trực tuyến, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong việc theo dõi, thẩm định dữ liệu phát thải.

Đồng tình với ông Hưng, PGS. Phạm Hoàng Lương đặt vấn đề: Hiện nay, Bộ NN&MT và các cơ quan có kế hoạch xây dựng hệ thống MRV số hóa (digital MRV platform) để giảm chi phí cho doanh nghiệp không?
Ông Phạm Nam Hưng khẳng định: yếu tố quan trọng nhất hiện nay là dữ liệu. Tuy nhiên, để có dữ liệu tốt, công tác kiểm kê, đo đạc và báo cáo cần được thực hiện một cách bài bản, bởi đây là nền tảng bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy của toàn bộ hệ thống.
Ở góc độ cơ quan quản lý đầu mối, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện đang từng bước xây dựng các chính sách và hướng dẫn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập hệ thống đo đạc – báo cáo phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu đánh giá phát thải, vừa góp phần giảm chi phí tuân thủ.
Theo ông Hưng, một trong những giải pháp đang được triển khai là tăng cường đào tạo, tập huấn và chia sẻ trực tuyến cho doanh nghiệp trong quá trình lập báo cáo kiểm kê phát thải. Tuy nhiên, bài toán quản lý dữ liệu và chi phí thực hiện không chỉ là thách thức riêng của Việt Nam mà là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, và đây là chi phí khó có thể tránh khỏi.
Trong phạm vi quản lý, Bộ hiện tập trung xây dựng hệ thống cho các lĩnh vực như nông nghiệp và lâm nghiệp. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm kê đang được nghiên cứu, hoàn thiện trong các đề án chuyên ngành. Trong khi đó, các lĩnh vực khác sẽ do các bộ, ngành liên quan tiếp tục xây dựng và hoàn thiện trong thời gian tới.

Đáng chú ý, trong giai đoạn đầu, Việt Nam sẽ tập trung phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu và quản lý phát thải (MRV) theo hướng chuẩn hóa, có tham khảo kinh nghiệm quốc tế như Hàn Quốc, Trung Quốc. Hệ thống này sẽ hướng tới việc chuẩn hóa phương pháp kiểm kê, báo cáo và phân bổ phát thải, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.
Tuy nhiên, ông Hưng cũng cho biết, quá trình triển khai vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là trong thu thập dữ liệu. Hiện nay, theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, hoạt động kiểm kê khí nhà kính được thực hiện 2 năm một lần, song theo ông Hưng, tần suất này chưa thực sự phù hợp với yêu cầu vận hành của thị trường các-bon.
“Để hệ thống vận hành hiệu quả, cần có dữ liệu thường xuyên hơn, thậm chí theo năm hoặc theo quý. Vì vậy, thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ nghiên cứu điều chỉnh quy định này theo hướng linh hoạt hơn,” ông Hưng cho biết.
Trả lời câu hỏi của ông Phạm Hoàng Lương về những lưu ý, khuyến nghị với doanh nghiệp khi tham gia thị trường tín chỉ các-bon, bà Vũ Thị Châu Quỳnh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho biết, chuyển đổi xanh không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành một điều kiện tiên quyết, một "giấy thông hành" để doanh nghiệp Việt Nam tiến xa ra biển lớn cũng như hội nhập thị trường.

Do đó, việc tuân thủ tiêu chí giảm phát thải không còn là khuyến khích, mà là yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp. “Chúng tôi cho rằng doanh nghiệp cần có tầm nhìn dài hạn hơn, coi tín chỉ các-bon là tài sản tài chính, coi thị trường các-bon như phương thức hỗ trợ giảm phát thải”, bà Châu Quỳnh nhấn mạnh.
Chia sẻ ba lưu ý với các doanh nghiệp, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho rằng, thứ nhất, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng năng lực về thị trường các-bon, tìm hiểu các quyền và quy định pháp lý liên quan, có sự chủ động quản lý tài khoản các-bon của mình như tài sản tài chính.
Thứ hai, cần xây dựng đội ngũ nhân sự quản lý “tài sản” các-bon này để tối ưu hoá lợi ích. Không chỉ hạn chế với doanh nghiệp trong diện áp dụng hạn ngạch. Hiện mới có 110 doanh nghiệp trong diện này và tiếp sau đây chắc chắn sẽ mở rộng hơn, doanh nghiệp cần chủ động.
Các doanh nghiệp cũng cần năm bắt các quy định liên quan, các quy định khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định tài chính liên quan.
Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dài hạn để đảm bảo chi phí tuân thủ giảm phát thải là tốt nhất. Bởi dư địa giảm phát thải của nhiều ngành có giới hạn, do đó, doanh nghiệp có thể lựa chọn công nghệ tối ưu, hoặc mua hạn ngạch, bù trừ phát thải…

TS Nguyễn Phương Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp xanh TP Hồ Chí Minh khẳng định: Hiện nay có gần 200 doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam, với nhiều tên tuổi lớn như Vinamilk, Phúc Sinh...

Trong đó, 110 doanh nghiệp được lựa chọn thí điểm hạn ngạch để tham gia thị trường các-bon trong giai đoạn thí điểm 2025–2026, có tới 51 doanh nghiệp đến từ ngành xi măng, 34 cơ sở nhiệt điện, 25 cơ sở sắt thép.
Phần lớn doanh nghiệp tham gia chủ yếu với vai trò tuân thủ hạn ngạch, tuy nhiên, từ góc nhìn doanh nghiệp, nhu cầu tham gia thị trường là rất lớn. Có thể nói, cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 9 doanh nghiệp mong muốn tham gia, nhưng vấn đề nằm ở chỗ doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò, vị trí của mình trong thị trường này.
Trên thực tế, trước khi thị trường các-bon hình thành, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động chuyển đổi theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Phần lớn doanh nghiệp trong hiệp hội đều có hoạt động xuất khẩu, với sản phẩm có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không thiếu năng lực, thậm chí rất tiên phong trong nhiều lĩnh vực.
Về tài chính, hiện nay nguồn vốn không phải là vấn đề lớn. Các ngân hàng sẵn sàng cung ứng vốn, nhưng điều còn thiếu là các dự án đủ tốt, đủ minh bạch, đủ tiềm năng. Quan trọng hơn, vẫn còn vấn đề về nhận thức, bao gồm nhận thức về cơ hội cũng như các rủi ro liên quan, như rủi ro tài chính và rủi ro pháp lý.
Liên quan đến khung pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước đã và đang hoàn thiện với tốc độ rất nhanh. Các văn bản chính sách mới được ban hành gần đây đã tạo nền tảng pháp lý cho việc khởi động thị trường các-bon.

Từ phía doanh nghiệp, nhận thức về thị trường cũng đang dần rõ ràng hơn. Doanh nghiệp hiểu rằng nếu chỉ tham gia ở góc độ tuân thủ thì chủ yếu là chi phí. Trong khi đó, nếu có thể tạo ra tín chỉ các-bon, tức “hàng hóa” của thị trường thì họ có thể lựa chọn bán ở thị trường tự nguyện hoặc thị trường tuân thủ, tùy theo nơi nào mang lại giá trị cao hơn.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay là quyền sở hữu tín chỉ các-bon vẫn chưa thực sự rõ ràng. Đây là một yếu tố khiến doanh nghiệp còn e ngại đầu tư. Bởi khi bỏ chi phí để tạo ra tín chỉ, doanh nghiệp cần chắc chắn về quyền sở hữu và khả năng sinh lời. Bên cạnh đó, để tạo ra một tín chỉ các-bon, doanh nghiệp cần từ 1,5 đến 2 năm, với quy trình kỹ thuật phức tạp, hệ thống MRV và các thủ tục pháp lý đi kèm. Điều này đòi hỏi nguồn lực đáng kể.
Ngoài ra, phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về các-bon. Vì vậy, dù ý chí tham gia đã có, việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế. Có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn sẵn sàng tham gia thị trường các-bon.
Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp có thể tham gia theo hướng tuân thủ, nhưng về lâu dài, khi thị trường thuận lợi, họ sẽ chủ động tham gia sâu hơn. Hiện nay, ông Nam nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế so với các quốc gia khác nhờ điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội thuận lợi, như nguồn năng lượng tái tạo dồi dào (nắng, gió), sinh khối, và các nguồn tài nguyên khác… Chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng tham gia thị trường các-bon khi cơ hội rõ ràng và doanh nghiệp tin rằng cơ hội này tại Việt Nam là rất lớn.
Ông Lương cũng đặt vấn đề về việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường các-bon, đặc biệt là cách cân bằng giữa mục tiêu giảm phát thải và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu triển khai.

Trao đổi về nội dung này, ông Lachlan Pontifex, Trưởng nhóm Aus4Growth, cho rằng: “Không tồn tại một mô hình thị trường các-bon chung có thể áp dụng cho mọi quốc gia, bởi thiết kế thị trường phụ thuộc vào đặc điểm và điều kiện riêng của từng nền kinh tế. Tuy vậy, giữa Australia và Việt Nam vẫn có những điểm tương đồng nhất định, đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế vận hành thị trường”.
Theo ông, bài toán cân bằng cần được nhìn nhận ở nhiều cấp độ, từ thiết kế thị trường đến quá trình triển khai. Kinh nghiệm từ Australia cho thấy cần đồng thời đáp ứng yêu cầu giảm phát thải theo cam kết quốc tế, nhưng vẫn phải đảm bảo tính cạnh tranh của các ngành kinh tế, nhất là những lĩnh vực phát thải lớn nhưng đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng như xây dựng, hạ tầng hay khai khoáng.

Để đạt được điều này, Australia đã áp dụng lộ trình giảm phát thải theo từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành. Các doanh nghiệp được tạo điều kiện về thời gian để điều chỉnh hoạt động sản xuất, bởi quá trình chuyển đổi đòi hỏi không chỉ thay đổi công nghệ mà còn cần nguồn vốn đầu tư lớn và sự chuẩn bị dài hạn. Việc giảm phát thải vì vậy cần có lộ trình rõ ràng, giúp doanh nghiệp thích ứng dần.
Bên cạnh đó, các yêu cầu về giảm phát thải được xây dựng theo hướng ổn định và có thể dự đoán, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch và quản lý. Tại Australia, yếu tố quản lý được chú trọng với việc thiết lập các tiêu chuẩn, quy trình đo lường và hệ thống báo cáo cụ thể. Chính phủ đã đưa ra các quy định và công cụ chuẩn hóa, giúp doanh nghiệp thực hiện kiểm kê và báo cáo phát thải hiệu quả hơn, qua đó giảm chi phí tuân thủ và tiết kiệm thời gian.


Tại Diễn đàn, nhiều doanh nghiệp cũng đặt câu hỏi tới các Diễn giả: