Việc áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình cho người khác và nền tảng triết lý cho phát triển yếu đã khiến đất nước chúng ta khó thể phát triển mạnh mẽ được.
Việc áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình cho người khác dễ nhận thấy trong ăn uống: mình ăn món gì thấy ngon thì sẽ nghĩ người khác phải ăn thế mới ngon; mình ăn hành, ăn tỏi, ăn mắm tôm, ăn thịt chó thì người khác cũng phải ăn, “không ăn phí nửa đời người”, “ăn tốt cho sức khỏe”, “ăn ngon lắm”…
Họ đâu có biết người không ăn được thì hoặc cơ thể họ không tiếp nhận hoặc với họ ăn như một cực hình.

Ảnh minh hoạ: Internet.
Khi tới nhà hàng hay mời khách đến nhà ăn, chúng ta ít khi hỏi người khác kiêng cái gì; lại thêm quan niệm “Nam vô tửu như kỳ vô phong”, nên trên bàn tiệc ta bắt tất cả đều phải uống rượu, đều phải 100%, nếu không 100% là không thật lòng, không cần biết người ta có uống được không, có đang điều trị bệnh gì không.
Hệ quả của việc áp đặt suy nghĩ chủ quan của mình cho người khác là làm người khác mất đi quyền suy nghĩ riêng và khả năng sáng tạo độc lập vì bị chi phối bởi quan niệm ‘‘Làm như tôi mới đúng, mới chuẩn.’’
Do vậy, trong khoa học, công nghệ, nếu chúng ta không có thói quen làm tiếp, tiếp quản thành quả của người khác mà thích làm lại từ đầu thì sẽ dẫn đến lãng phí của cải chung của cả xã hội, giá thành sản phẩm cao và chậm nhịp độ phát triển.
Tổ chức sẽ thiếu tính sáng tạo vì không có người phản biện, hoặc là tổ chức sẽ thiếu sự đoàn kết và không phát huy hết các tài năng cá nhân vì những người khác suy nghĩ thì hoặc sẽ phải rời bỏ tổ chức hoặc ở lại thì thụ động, không dám thể hiện hết mình.
Nho giáo là hệ thống triết học bị áp đặt cho Việt Nam và chiếm vị trí độc tôn cho mãi tới thế kỷ XX.
Trên nền tảng triết lý Khổng giáo ấy, rất nhiều giá trị văn hóa – xã hội, truyền thống được hình thành và phát triển. Tuy nhiên, Nho giáo không cung cấp cho ta một triết lý phát triển kinh tế – xã hội thích hợp. Việc phân chia thành ‘‘sĩ, nông, công, thương’’ trong xã hội là không chuẩn, thậm chí bị sai lệch, từ đó dẫn đến đảo lộn các quy tắc hành xử, ứng xử trong xã hội cũng như trong phát triển kinh tế.
Không những đánh giá thấp mà còn coi thường: dạy học và chữa bệnh thì được gọi là “thầy” (thầy giáo, thầy thuốc) (điều này không sai), còn buôn bán, thương mại thì gọi là “con”, là “bọn” (phường con buôn, bọn con buôn).
Trong khi doanh nghiệp (bao gồm cả nhà máy, xí nghiệp sản xuất, ngân hàng) là trung tâm của xã hội, tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trong xã hội, đóng thuế nuôi bộ máy chính quyền, duy trì an ninh quốc phòng, đầu tư cho giao thông, hạ tầng xã hội, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người nghèo và các chính sách xã hội…
Đã bước vào thế kỷ XXI, hội nhập quốc tế đã 22 năm, thời đại Internet, thời đại toàn cầu hoá rồi mà hiện tại còn một số học giả, người có tri thức vẫn có luận điểm chia những người kinh doanh ở ta ra ba loại: doanh nhân, thương nhân và con buôn, trong khi thế giới chỉ dùng một từ duy nhất là “businessman”. Tệ hại hơn, có người còn kết luận hiện thời Việt Nam chưa có doanh nhân.
Một thành phần chính, lực lượng chính, hoạt động trung tâm của việc tạo ra của cải cho xã hội, của phát triển kinh tế, làm giàu cho cá nhân, tập thể và đất nước lại bị đánh giá thấp nhất, bị coi thường, thì vẫn nghèo cũng là chuyện hiển nhiên.
Có thời, chúng ta đã hiểu hoàn toàn sai về thương mại và doanh nhân, coi buôn bán, thương mại là lừa gạt, là bất nhân. Thực chất, thương mại và doanh nhân buộc người ta phải đi lại, gặp gỡ, giao lưu, buộc người ta phải thuyết phục đối tác, khách hàng.
Muốn vậy, họ buộc phải tìm hiểu tâm lý, thói quen, nhu cầu của khách hàng; muốn vậy, họ buộc phải đặt mình vào địa vị của khách hàng để hiểu tâm lý, thói quen, nhu cầu, để khám phá xem khách hàng muốn gì; muốn vậy, họ buộc phải nghiên cứu, áp dụng khoa học và công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất.
Tiếp theo, họ phải tìm cách chinh phục khách hàng, thuyết phục khách hàng đồng ý mua sản phẩm, dịch vụ của mình thay vì mua sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp khác, của quốc gia mình mà không phải quốc gia khác. Muốn làm được điều đó, doanh nhân phải là một người lịch sự, chân thành, lễ độ, nghiêm túc, hiểu biết, giữ chữ tín, đáng tin cậy, đáng yêu và có trách nhiệm với xã hội, đôi khi là cả lòng dũng cảm, đi tiên phong.
Chân thành, tin cậy, đáng yêu, có trách nhiệm với xã hội là bốn đức tính đáng quý nhất của một doanh nhân, thiếu bốn đức tính đó thì không thể là một doanh nhân lớn, không thể thành công trong thương mại, nếu có thành công thì chỉ là thành công nhỏ, tạm bợ mà thôi.
Chính vì bị đánh giá thấp, bị coi thường nên doanh nghiệp và nghề buôn (thương mại) một thời gian dài không được phát triển ở Việt Nam, mà thương mại và doanh nghiệp không được phát triển thì tất yếu đất nước sẽ nghèo.
Chúng ta có hai thái cực trái ngược nhau đầy mâu thuẫn về tiền bạc. Thái cực thứ nhất là coi khinh đồng tiền. Đã coi khinh đồng tiền, coi tiền là bạc bẽo thì hiển nhiên sẽ không bao giờ kiếm được nhiều tiền, không bao giờ giàu có. Thái cực thứ hai là tuyệt đối hoá đồng tiền: “Có tiền mua tiên cũng được”, “Tiền là vạn năng”, “Tiền là tất cả”. Đã tuyệt đối hoá đồng tiền họ sẽ kiếm tiền bằng mọi giá, không quan tâm đến chữ tín, không quan tâm đến nhân cách, bất chấp hậu quả.
Triết lý vừa tuyệt đối hóa vừa coi khinh đồng tiền đã dẫn đến một bộ phận người Việt Nam không dám công khai kiếm tiền, coi kiếm tiền như một sự vẩn đục, họ cố làm ra vẻ coi khinh đồng tiền, coi khinh sự giàu có và hãnh diện với sự thanh bần của mình. Mặt khác, họ cũng hiểu quyền lực của đồng tiền, họ cũng cần tiền và muốn có nhiều tiền, thành thử họ kiếm tiền và làm giàu một cách giấu giếm.
Các xã hội phát triển, văn minh họ đánh giá đúng giá trị đồng tiền, họ không tuyệt đối hóa cũng không coi khinh đồng tiền, họ coi đồng tiền là phương tiện trao đổi hàng hóa, là thước đo giá trị lao động, giúp họ có cuộc sống tốt hơn, đào tạo nâng cao trình độ, chăm sóc sức khỏe tốt hơn, báo hiếu cha mẹ, giải trí, du lịch và làm công tác xã hội.
Thời phong kiến, người giỏi là giỏi làm thơ (xuất khẩu thành thơ), giỏi đối đáp (câu đối), trong khi đó xã hội cần bao nhiêu người tài trong các lĩnh vực khác nữa: khoa học tự nhiên và kinh tế – thương mại là hai lĩnh lực quan trọng nhất giúp kinh tế phát triển thì thời phong kiến không được quan tâm, không được đánh giá là người tài. Nửa cuối thế kỷ trước, ở miền Bắc lại quan niệm người giỏi là giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn Toán, tất cả những học sinh giỏi nhất lên đại học đều học Toán, Vật lý, Cơ học.
Chúng ta không đánh giá cao, không ca ngợi những nguyên lý cơ bản về hệ thống, bài bản mà thường đánh giá cao sự lanh trí xử lý theo tình huống theo điển Trạng Quỳnh như: “Dê đực chửa”, “Hâm nước mắm”, “Nhúng 10 đầu ngón tay vẽ giun”… Với tư duy ấy, chúng ta chỉ có thể làm tốt những hệ thống nhỏ, đơn lẻ, khi hệ thống lớn hơn, cần nhân rộng, cần phát triển lâu dài thì sự lanh trí, khôn vặt lại chính là lực cản của sự phát triển.
Việc tuyển chọn người thời phong kiến lại thông qua thi cử toàn là văn thơ. Đỗ trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn v.v. thì bổ làm quan. Thám hoa, bảng nhãn mà chỉ giỏi văn thơ thì làm sao lãnh đạo một tổng, một huyện, một tỉnh, làm sao lãnh đạo phát triển kinh tế. Đồng hành với coi trọng bằng cấp thi cử là coi nhẹ thực hành: ngày trước đi học chỉ dạy văn thơ, câu đối; ngày nay, nhiều cơ sở đào tạo chỉ dạy lý thuyết mà ít dạy thực hành.
(Còn nữa)
Có thể bạn quan tâm
05:00, 08/06/2020
12:00, 05/06/2020
06:00, 03/06/2020