Dòng vốn FDI từ EU vào Việt Nam chưa tương xứng tiềm năng, đòi hỏi cấp thiết là tạo cú hích thể chế để khơi thông và hút dòng vốn chất lượng cao này.
Liên minh châu Âu (EU) coi Việt Nam là một đối tác then chốt trong ASEAN, không chỉ vì sự năng động về kinh tế và tiềm năng thị trường, mà còn vì vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu cùng với cam kết mạnh mẽ đối với quá trình chuyển đổi kép: xanh và số.

Tuy nhiên, bất chấp những kỳ vọng lớn, một thực tế phải thừa nhận là dòng vốn FDI từ EU vào Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, hiện chỉ chiếm 2-5% tổng FDI ra nước ngoài của EU.
Quy mô và chất lượng đầu tư của EU tại Việt Nam vẫn dưới mức tiềm năng: nhiều dự án vẫn còn tương đối nhỏ, và tỷ trọng các khoản đầu tư công nghệ cao, dựa trên R&D, vẫn chưa thực sự quan trọng như nó vốn có thể đạt được nếu xét tới những thế mạnh của châu Âu.
Đầu tư vẫn đang tập trung vào các lĩnh vực truyền thống, trong khi những lĩnh vực mà chúng tôi muốn thấy nhiều động lực hơn, chẳng hạn như năng lượng tái tạo, hạ tầng giao thông bền vững và công nghệ tiên tiến, lại chưa thu hút đủ các dự án quy mô lớn do năng lực hấp thụ và thiếu hụt nhân tài.
Đặc biệt theo TS Phan Thuý Thảo, Trường Đại học Thủy lợi, dòng vốn FDI từ EU hiện phân bố không đều theo vùng và ngành. Theo đó, tập trung quá mức tại các thành phố lớn và vùng kinh tế trọng điểm. Vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư, trong khi các vùng khác như Tây Nguyên, miền Trung chỉ chiếm 5-10%. Sự phân bố không đều này làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng. Trong khi đó, về cơ cấu ngành, mặc dù EU có thế mạnh về công nghệ cao, năng lượng sạch, nhưng đầu tư vào các lĩnh vực này vẫn hạn chế. Các ngành truyền thống như dệt may, chế biến thực phẩm vẫn chiếm tỷ trọng cao, trong khi các ngành công nghệ sinh học, AI, năng lượng tái tạo chưa thu hút được nhiều dự án lớn.
Trong khi đó, đối với Việt Nam, chuyển đổi kép không chỉ là một yêu cầu toàn cầu mà còn là một cơ hội lớn để nâng cấp tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.
Ông Julien Guerrier, Đại sứ EU tại Việt Nam cho rằng, cơ hội lớn nhất nằm ở việc tiến lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị: sản xuất một cách hiệu quả, sạch và minh bạch hơn, với khả năng truy xuất nguồn gốc mạnh mẽ hơn và tuân thủ tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế. Điều đó sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường EU, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên phạm vi toàn cầu.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) đang tạo ra áp lực không nhỏ, đòi hỏi các hệ thống dữ liệu khắt khe về khí thải, lao động và tính tuân thủ. Tôi muốn nhấn mạnh lại rằng chúng tôi không kỳ vọng các DNNVV sẽ trở nên "hoàn hảo chỉ sau một đêm". Điều quan trọng là có một lộ trình nâng cấp rõ ràng, đáng tin cậy, từng bước một nhưng đi đúng hướng.

Thay vì tự bơi, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ kết hợp giữa tài chính, chuyển giao công nghệ và đặc biệt là các chương trình đào tạo kỹ năng thiết thực như tính toán dấu chân carbon hay quản lý chất lượng.
Đại sứ EU tại Việt Nam cho rằng, để khơi thông nguồn vốn chất lượng cao này, theo định hướng của Chiến lược Cửa ngõ Toàn cầu, EU đặt ra các kỳ vọng lớn về mặt cải thiện môi trường đầu tư.
“Việt Nam cần một khung pháp lý ổn định, minh bạch và được thực thi nhất quán, đi kèm với các thủ tục hành chính nhanh chóng, số hóa và cơ chế "một cửa" hiệu quả để giảm thiểu sự bất ổn cho nhà đầu tư”, ông Julien Guerrier nhận định.
Đồng thời cho rằng, để những tham vọng của chúng ta thành công, tuyên bố chung về việc nâng cấp quan hệ cũng nhắc nhở rằng các sáng kiến cần phải hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, tạo ra các cơ hội giúp chúng ta tận dụng sức mạnh của mỗi bên, vì lợi ích của Việt Nam và EU. EU, với tư cách là một đối tác tin cậy, sẽ mang lại rất nhiều giá trị nếu các điều kiện phù hợp hội đủ.
TS Phan Thuý Thảo cho rằng, để Việt Nam không chỉ thu hút được nhiều dự án FDI chất lượng cao từ EU, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp.
Một là, hoàn thiện thể chế và tăng cường thực hiện EVFTA. Theo đó, đẩy nhanh quá trình nội luật hóa các cam kết trong EVFTA, đặc biệt về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, minh bạch thủ tục hành chính và cơ chế giải quyết tranh chấp.
Hai là, xúc tiến đầu tư chuyên sâu và có trọng tâm. Theo đó, cần xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư theo ngành và quốc gia EU trọng điểm. Tập trung vào các ngành mà EU có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu phát triển như năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học, chuyển đổi số, công nghiệp phụ trợ.
Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong quản lý đầu tư. Đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng sạch và hệ thống xử lý chất thải công nghiệp để đáp ứng yêu cầu ESG của các doanh nghiệp EU.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, cần cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp EU.
Năm là, tạo lập hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Phát triển các khu công nghệ cao, khu đổi mới sáng tạo đạt tiêu chuẩn quốc tế với cơ chế ưu đãi đặc biệt cho các dự án R&D. Tạo môi trường thuận lợi cho việc chuyển giao và thương mại hóa công nghệ giữa các doanh nghiệp EU và Việt Nam.