Doanh thu kỹ thuật số ngày càng chiếm tỷ trọng trong thu nhập của các nhà sáng tạo nhưng đồng thời đây cũng là khoản doanh thu dễ bị tổn thương nhất vì hành vi xâm phạm bản quyền.
Vừa qua, Hội Truyền thông - Điện tử TP.HCM phối hợp cùng Viện Công nghệ Bản quyền và Tài sản số (CTDA) tổ chức thảo luận “Ứng dụng Công nghệ toàn diện mở lối Văn hoá số phát triển”. Sự kiện có sự tham dự của Luật sư Phan Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ TP.HCM; ông Nguyễn Thế Vinh, Đồng sáng lập, CEO Ninety Eight & FANOS; Rapper Pjpo, nghệ sĩ đầu tiên ứng dụng công nghệ Blockchain vào việc phát hành album âm nhạc.
Còn khoảng trống trên hành trình phát triển Công nghiệp Văn hoá số
Chia sẻ tại buổi thảo luận Luật sư Phan Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ TP.HCM cho biết công nghiệp văn hóa là một ngành tiềm năng và Việt Nam đang hướng đến việc tăng cường đóng góp của ngành công nghiệp này vào nền kinh tế.
Hiện nay doanh thu toàn ngành đang đóng góp khoảng 4% GDP, con số này còn cách khá xa các quốc gia như Hàn Quốc (cao điểm đóng góp 12% GDP) và Mỹ (đóng góp 11% GDP). Chính vì thế, theo Luật sư Tuấn, Chính phủ Việt Nam đang đặt mục tiêu đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa vào nền kinh tế đạt 9% vào năm 2045 với các mục tiêu cụ thể: 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa là sản phẩm số, 5-10 thương hiệu quốc gia.
Báo cáo “Định hình lại các chính sách cho sự sáng tạo" của UNESCO cho biết doanh thu kỹ thuật số hiện chiếm 35% thu nhập của người sáng tạo, tăng từ 17% vào năm 2018, đánh dấu sự thay đổi cấu trúc đi kèm với sự bất ổn về thu nhập và gia tăng nguy cơ vi phạm sở hữu trí tuệ. Đến năm 2028, tác động của các sản phẩm AI tạo sinh được dự báo sẽ dẫn đến tổn thất doanh thu toàn cầu là 24% đối với người sáng tạo âm nhạc và 21% đối với người sáng tạo nghe nhìn.
Sự tập trung thị trường vào một số ít nền tảng phát trực tuyến và hệ thống quản lý nội dung thiếu minh bạch đã làm suy yếu những người sáng tạo ít được biết đến. Trong khi đó chỉ có 48% quốc gia đang xây dựng hệ thống thống kê để theo dõi việc tiêu thụ văn hóa kỹ thuật số, hạn chế các phản ứng chính sách hiệu quả.
Thống kê này được UNESCO phân tích bối cảnh văn hóa đang phát triển nhanh chóng do chuyển đổi số, Trí tuệ nhân tạo (AI), sự thay đổi động lực thương mại toàn cầu và các mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với tự do nghệ thuật. Dữ liệu được thu thập từ hơn 120 quốc gia, chỉ ra sự cần thiết phải có các chính sách mạnh mẽ hơn để bảo vệ các nhà sáng tạo khỏi sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng.
Theo Luật sư Tuấn, một trong các vấn đề Việt Nam phải giải quyết là thiếu các nền tảng phân phối nội dung số, toàn bộ đang dựa vào một số nền tảng toàn cầu.
“Ví dụ như các video ca nhạc và nền tảng YouTube. Toàn bộ hệ thống và nền công nghiệp âm nhạc Việt Nam phải dựa vào một bên ở nước ngoài, không hề giao quyền cho bất cứ tổ chức pháp lý nào mà thông qua các MCN (mạng lưới đa kênh)”, ông Tuấn nói.

Mỗi năm, Việt Nam công bố hàng trăm nghìn tác phẩm, nhưng chỉ khoảng 3.000 tác phẩm được cấp mã từ Việt Nam. Trong khi đó, số lượng tác phẩm sử dụng mã của nước ngoài (đặc biệt là Mỹ) gần như chưa có thống kê đầy đủ. Điều này phản ánh một thực tế, theo ông Tuấn, Việt Nam đang thiếu hạ tầng dữ liệu để quản lý và kết nối hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã triển khai cơ chế sandbox ở nhiều lĩnh vực, nhưng với công nghiệp văn hóa thì vẫn còn là khoảng trống. Ông Tuấn kỳ vọng là có thể học hỏi kinh nghiệm từ Hàn Quốc, quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển về cách xây dựng các sandbox ở cấp thành phố hoặc địa phương để thử nghiệm các mô hình mới tại sự kiện Conviction 2026.
Vấn đề thứ hai là hạ tầng dữ liệu. Khung pháp lý đã có, đồng thời các hệ thống cũng được yêu cầu hoàn thành kết nối trước ngày 30/10. Theo Luật sư Phan Vũ Tuấn nếu không xây dựng được hạ tầng dữ liệu thống nhất, các sản phẩm và dữ liệu sẽ tiếp tục rời rạc, không thể liên thông và tạo ra giá trị cho toàn ngành.
Nền tảng niềm tin cho cộng đồng Nghệ sĩ, Nhà sáng tạo và Người hâm mộ
Theo ông Nguyễn Thế Vinh, Đồng sáng lập, CEO Ninety Eight & FANOS, ngành công nghiệp văn hóa số Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào các nền tảng mạng xã hội nước ngoài như YouTube, Facebook hay TikTok. Không chỉ dữ liệu người dùng nằm trên hạ tầng quốc tế, các nền tảng này còn ưu tiên nội dung tạo nhiều lượt xem thay vì phản ánh giá trị thực của cộng đồng người hâm mộ.
"Chúng tôi mong muốn xây dựng một nền tảng được tạo nên từ niềm tin, tình yêu và sự kết nối giữa con người với con người, thay vì chỉ chạy theo những chỉ số lượt xem", ông Nguyễn Thế Vinh chia sẻ.
Ông Vinh cho rằng Việt Nam cần một hạ tầng công nghệ được xây dựng bởi người Việt và dành riêng cho nền kinh tế fandom. Đó là lý do FANOS được phát triển như một mạng xã hội chuyên biệt, nơi nghệ sĩ có thể xây dựng cộng đồng và kết nối trực tiếp với người hâm mộ trên chính dữ liệu của mình.
Khác với các mạng xã hội truyền thống chỉ phản ánh số lượng người theo dõi, FANOS ứng dụng Blockchain để ghi nhận và xác thực toàn bộ hành trình đồng hành của người hâm mộ. Mỗi hoạt động như tham dự concert, sở hữu vật phẩm, tương tác hay ủng hộ nghệ sĩ đều được lưu trữ thành dữ liệu minh bạch, không thể chỉnh sửa.
"Một triệu người theo dõi hôm nay thực chất chỉ là những con số. Chúng ta chưa có cơ chế để khắc họa chân dung của từng người hâm mộ cũng như ghi nhận những đóng góp của họ."

Theo ông Vinh, việc số hóa các tương tác giúp nghệ sĩ hiểu rõ cộng đồng của mình, từ đó xây dựng hệ thống quyền lợi, tri ân và gắn kết dựa trên mức độ đồng hành thực tế. Chẳng hạn, một tấm vé concert sau khi được sử dụng vẫn tiếp tục tồn tại như một bản ghi dữ liệu, trở thành căn cứ để xác định mức độ gắn bó của người hâm mộ trong hệ sinh thái.
Bên cạnh việc kết nối nghệ sĩ và fan, Blockchain còn giúp FANOS mở rộng sang các bài toán về bản quyền và sở hữu trí tuệ. Nền tảng hỗ trợ chứng nhận số cho tác phẩm, xây dựng Content ID cho âm nhạc Việt Nam và tạo nền tảng phân phối bản quyền minh bạch hơn khi hành lang pháp lý về tài sản số được hoàn thiện.
Ông Nguyễn Thế Vinh khẳng định FANOS không chỉ là một ứng dụng mạng xã hội mà là hạ tầng chuyển hóa những tương tác giữa nghệ sĩ và người hâm mộ thành dữ liệu và giá trị lâu dài.
"FANOS là hạ tầng chuyển những tình yêu và sự đồng hành của người hâm mộ thành dữ liệu, thành kết nối và thành quyền sở hữu, từ đó tạo nên một hệ sinh thái được gắn kết bằng trải nghiệm và cảm xúc", ông Vinh tiết lộ.