Chuỗi cung ứng song song là việc doanh nghiệp xây dựng nhiều chuỗi có thể vận hành song song dưới cùng một hệ thống để đáp ứng từng tiêu chuẩn cho nhiều thị trường khác nhau.

Câu chuyện của Apple là một ví dụ điển hình của chuỗi cung ứng song song khi tập đoàn này tăng cường mở rộng sản xuất tại Ấn Độ, Việt Nam,… Thế nhưng, Apple không tìm một trung tâm mới để thay thế Trung Quốc, mà xây dựng nhiều chuỗi song song.
Trong nhiều thập kỷ, công thức tối ưu chuỗi cung ứng tương đối rõ ràng: sản xuất tại nơi có chi phí thấp nhất, tập trung tăng quy mô để giảm chi phí bình quân và chuẩn hóa quy trình để phục vụ càng nhiều thị trường càng tốt. Càng nhiều thị trường dùng chung một hệ thống, lợi thế quy mô càng lớn.
Nhưng công thức này đang thay đổi. Địa chính trị ngày càng tác động trực tiếp đến quyết định sản xuất và cung nguồn hàng. Hãng McKinsey dự báo hơn 30% thương mại toàn cầu vào năm 2035 có thể dịch chuyển từ hành lang thương mại này sang hành lang khác tùy theo diễn biến của môi trường địa chính trị.
Khi đó, chi phí sản xuất thấp nhất không còn đồng nghĩa với tổng chi phí thấp nhất. Thuế quan, quy tắc xuất xứ, rủi ro gián đoạn và chi phí tuân thủ có thể xóa nhòa lợi thế chi phí sản xuất thấp.
Doanh nghiệp ngày càng phải chứng minh sản phẩm được tạo ra như thế nào: nguyên liệu đến từ đâu, sử dụng nguồn năng lượng nào, phát thải bao nhiêu, điều kiện lao động ra sao và những thông tin đó có thể được kiểm chứng bằng dữ liệu hay không. UNCTAD cho biết hiện có hơn 500 tiêu chuẩn bền vững tự nguyện được sử dụng trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, áp toàn bộ hệ thống tuân thủ của thị trường khắt khe lên mọi đơn hàng cũng tạo ra một vấn đề khác: chi phí. Một khách hàng có thể sẵn sàng trả thêm cho khả năng truy xuất sâu, nguyên liệu tái chế hay chứng nhận môi trường. Một khách hàng khác lại ưu tiên giá và tốc độ giao hàng. Nếu tất cả đều phải gánh cùng một mức chi phí chứng nhận, kiểm toán và quản trị dữ liệu, doanh nghiệp có thể tự làm giảm sức cạnh tranh của mình.
Ông Hoàng Mạnh Cầm, Chánh văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam, nhận định: “Doanh nghiệp cần cẩn trọng khi triển khai đáp ứng các tiêu chuẩn. Nếu áp dụng hết thì không đáp ứng được chi phí, nếu không áp dụng đủ thì lại không vào được các thị trường khắt khe”.
Đó là lúc chiến lược chuỗi cung ứng song song xuất hiện. Theo đó, các doanh nghiệp tiên phong đã triển khai hệ thống sản xuất của mình thành 2 chuỗi. Chuỗi A được thiết kế để đáp ứng những thị trường có yêu cầu cao về truy xuất, phát thải, nguyên liệu và minh bạch dữ liệu. Chuỗi B giải một bài toán khác: đưa sản phẩm đến những thị trường nhạy cảm về giá với chi phí, tốc độ và độ tin cậy cạnh tranh nhất. Điều quan trọng là chuỗi B không đồng nghĩa với một phiên bản “kém tiêu chuẩn”.
Không có nghĩa là hai doanh nghiệp
Doanh nghiệp hoàn toàn có thể xây 2 chuỗi cung ứng độc lập. Nhưng cách này cũng đồng nghĩa với việc nhân đôi nhà cung cấp, năng lực sản xuất, dữ liệu và quy trình quản trị. Đó là một con số khổng lồ về chi phí.
Cách tiếp cận hiệu quả hơn là xác định điểm nào cần tách và điểm nào vẫn nên dùng chung. McKinsey cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp có thể phân đoạn chuỗi cung ứng theo nhu cầu nhưng vẫn duy trì những chức năng trung tâm như tiêu chuẩn chất lượng hay triết lý thiết kế.
Như vậy, nhà máy, công nghệ lõi, hệ thống quản trị ERP, dữ liệu nền và một phần năng lực mua hàng có thể vẫn dùng chung. Chỉ những phần tạo ra khác biệt về thị trường như nguyên liệu, chứng nhận, mức độ truy xuất, cấu hình sản phẩm hay dữ liệu chứng minh mới được phân tách. Thành thử, chiến lược chuỗi song song này sẽ tạo ra lợi thế nếu doanh nghiệp có thể chuyển đổi linh hoạt giữa 2 chuỗi khi điều kiện thị trường thay đổi.
Mô hình vận hành song song hai chuỗi cung ứng đặc biệt quan trọng với những nước như Việt Nam, có nền kinh tế chú trọng xuất khẩu và tham gia vào nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu, là bạn hàng của cả các thị trường yêu cầu khắt khe như châu Âu lẫn các thị trường nhạy cảm về giá khác.
Trước câu hỏi khi nào nên đầu tư để tránh việt vị lẫn tránh tụt hậu? bà Tùng Chi, đại diện Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), cho biết phương án tốt nhất là “hãy nghe nhãn hàng”. Các nhãn hàng, bạn hàng của doanh nghiệp Việt sẽ là bên hiểu rõ nhất các yêu cầu pháp lý tại thị trường tiêu thụ và có khả năng chuyển những yêu cầu đó thành tiêu chuẩn cụ thể đối với nhà cung ứng. Họ biết yêu cầu nào sẽ thực sự được truyền xuống chuỗi, nhà cung cấp nào sẽ chịu tác động và mức độ thay đổi đến đâu?
Khi vận hành mô hình song song hai chuỗi cung ứng, doanh nghiệp còn phải tính đến chi phí để quản lý hệ thống kép. Với các tập đoàn lớn, khoản chi phí này có thể được chia nhỏ trên hàng nghìn đơn hàng nên có thể đáp ứng được. Nhưng với doanh nghiệp SME, đây lại là một bài toán khó.
Trong tình huống này, một hướng giải quyết thích hợp cho SME là các hiệp hội. Ví dụ, thay vì mỗi doanh nghiệp tự xây dựng một hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng, các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể sử dụng một nền tảng dữ liệu hoặc một hệ thống tiêu chuẩn chung. Chi phí xây dựng ban đầu vẫn lớn, nhưng khi được chia cho nhiều doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp chỉ phải chịu một có số thấp hơn đáng kể.