Trong khi doanh nghiệp phải thích ứng nhanh với quy định về phát thải, tiêu chuẩn thị trường và sự dịch chuyển của dòng vốn, khoảng trống về kỹ năng có nguy cơ trở thành một điểm nghẽn mới.
Bài toán chính sách vì thế không chỉ là đào tạo thêm một số “nghề xanh”, mà là nâng cấp năng lực của lực lượng lao động đang vận hành doanh nghiệp.
.jpg)
Chuyển đổi xanh đang chuyển nhanh từ một xu hướng mang tính khuyến khích thành yêu cầu ngày càng cụ thể đối với doanh nghiệp Việt Nam. Sức ép đến đồng thời từ ba phía: định hướng phát triển và khuôn khổ pháp lý trong nước; tiêu chuẩn môi trường, carbon và truy xuất nguồn gốc tại các thị trường xuất khẩu; và yêu cầu của nhà đầu tư, khách hàng, chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều thay đổi quan trọng là “xanh” không còn chỉ gắn với trách nhiệm xã hội hay hình ảnh thương hiệu, mà ngày càng liên quan trực tiếp đến chi phí, khả năng tiếp cận thị trường và năng lực cạnh tranh.
Ở trong nước, nền tảng chính sách được xác lập bởi Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh tại Quyết định 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022. Gần đây hơn, Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra định hướng đẩy mạnh tín dụng xanh, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đầu tư máy móc, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG. Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026 của Chính phủ tiếp tục yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, phát thải carbon thấp, tiết kiệm tài nguyên. Bên cạnh định hướng chính sách là những nghĩa vụ pháp lý cụ thể đối với các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh.
Áp lực từ thị trường quốc tế cũng trở nên rõ hơn trong năm 2026. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026. Nghĩa vụ pháp lý trực tiếp thuộc về nhà nhập khẩu hoặc đại diện hải quan gián tiếp tại EU theo các điều kiện của CBAM, nhưng doanh nghiệp Việt Nam cung ứng hàng hóa thuộc diện điều chỉnh phải có khả năng cung cấp dữ liệu phát thải đáng tin cậy và từng bước giảm hàm lượng carbon nếu muốn duy trì lợi thế cạnh tranh. Với Quy định chống phá rừng của EU (EUDR), các nghĩa vụ chính áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với phần lớn nhà khai thác, nhà kinh doanh và từ ngày 30/6/2027 đối với một số doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ đủ điều kiện chuyển tiếp. Đối với doanh nghiệp Việt Nam trong các chuỗi hàng hóa liên quan, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chứng minh không gây mất rừng sẽ truyền ngược dọc chuỗi cung ứng.
Từ đây xuất hiện một yêu cầu có tính nền tảng: năng lực của người lao động phải thay đổi tương ứng với tốc độ chuyển đổi của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi xanh cần được hiểu rộng hơn “lao động làm nghề xanh”. Doanh nghiệp cần chuyên gia môi trường, năng lượng tái tạo, kiểm kê khí nhà kính, carbon hay ESG; nhưng đồng thời cần kỹ sư biết tối ưu năng lượng và nguyên liệu, cán bộ thu mua hiểu chuỗi cung ứng bền vững, nhân sự logistics biết quản lý phát thải vận tải, kế toán và chuyên viên dữ liệu có khả năng xử lý thông tin phát thải, cũng như đội ngũ quản lý biết đưa mục tiêu xanh vào chiến lược. Vì vậy, khoảng trống nhân lực có hai lớp: thiếu một số nhân lực chuyên sâu và thiếu kỹ năng xanh trong rất nhiều vị trí việc làm hiện hữu.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ghi nhận doanh nghiệp ngày càng khó tuyển người có kỹ năng phù hợp; riêng trong các lĩnh vực xanh như năng lượng tái tạo, nhà đầu tư gặp khó khi tuyển kỹ sư, quản lý dự án năng lượng tái tạo và kỹ thuật viên chuyên môn. Đây là chỉ dấu trực tiếp cho thấy thiếu hụt kỹ năng đã xuất hiện ở những lĩnh vực then chốt của chuyển đổi năng lượng.
Sức ép sẽ còn tăng khi cơ cấu đầu tư thay đổi. OECD ước tính khoảng một nửa vốn đầu tư greenfield vào Việt Nam giai đoạn 2020-2025 hướng tới các lĩnh vực xanh hoặc số. Trong khi đó, mô hình FDI trước đây tập trung mạnh vào sản xuất, lắp ráp và các hoạt động có cường độ kỹ năng thấp. Khi dòng vốn chuyển sang những hoạt động đòi hỏi công nghệ và tri thức cao hơn, lợi thế lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh sẽ không đủ nếu chất lượng kỹ năng không được nâng lên tương ứng.
Có thể khái quát Việt Nam đang đối mặt với một “khoảng trống kép”. Một mặt là thiếu nhân lực chuyên sâu ở một số lĩnh vực như năng lượng tái tạo, môi trường, carbon, ESG và công nghệ mới. Mặt khác, quy mô lớn hơn là thiếu những kỹ năng cần thiết để “xanh hóa” các công việc đang tồn tại. Chính lớp thứ hai quyết định tốc độ chuyển đổi của hàng triệu lao động trong sản xuất, logistics, thu mua, tài chính, kế toán, dữ liệu và quản trị. Nếu tiêu chuẩn carbon, công nghệ và yêu cầu của chuỗi cung ứng thay đổi nhanh hơn tốc độ nâng cấp kỹ năng, nhân lực có thể trở thành điểm nghẽn của chuyển đổi xanh.
.jpg)
Chính sách phát triển nhân lực vì thế cần chuyển trọng tâm từ câu hỏi “cần bao nhiêu lao động xanh” sang câu hỏi “mỗi ngành, mỗi nhóm nghề cần thêm những kỹ năng nào để thực hiện chuyển đổi xanh”. Đây là thay đổi quan trọng về cách tiếp cận. Việt Nam không chỉ cần tạo thêm nghề mới mà phải xanh hóa một phần đáng kể các nghề đang tồn tại.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu và khung kỹ năng xanh theo ngành, nghề. Nhu cầu của thép, xi măng, dệt may khác với logistics, điện tử, tài chính hay nông nghiệp. Với từng nhóm ngành, cần xác định bộ năng lực cụ thể về hiệu quả năng lượng và tài nguyên, kiểm kê và quản trị phát thải, kinh tế tuần hoàn, công nghệ sạch, dữ liệu ESG, truy xuất nguồn gốc và chuỗi cung ứng bền vững. Công việc này nên có sự tham gia thực chất của doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng, thay vì chỉ do cơ sở đào tạo thiết kế, đồng thời phải được cập nhật theo thay đổi của công nghệ và thị trường.
Thứ hai, cần “xanh hóa” chương trình giáo dục nghề nghiệp và đại học, thay vì chỉ mở thêm một số ngành học mang tên xanh. Kỹ năng xanh nên trở thành một cấu phần của các ngành hiện hữu: kỹ thuật gắn với hiệu quả năng lượng, sản xuất sạch và quản trị phát thải; logistics gắn với vận tải carbon thấp và chuỗi cung ứng bền vững; tài chính - kế toán gắn với tài chính xanh, dữ liệu phát thải và báo cáo bền vững; công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu gắn với dữ liệu năng lượng, carbon, ESG; quản trị kinh doanh gắn với chiến lược chuyển đổi và quản trị rủi ro khí hậu. Cách tiếp cận này mở rộng nguồn cung nhân lực nhanh hơn so với chỉ đào tạo một nhóm nhỏ chuyên gia môi trường.
Thứ ba, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lao động đang làm việc phải là trọng tâm của chính sách. Phần lớn những người sẽ vận hành quá trình chuyển đổi trong 5-10 năm tới đã có mặt trong doanh nghiệp hôm nay. Một kỹ sư sản xuất không nhất thiết phải trở thành kỹ sư môi trường, nhưng cần biết quản lý năng lượng, nguyên liệu và phát thải. Kế toán có thể được bổ sung năng lực xử lý dữ liệu carbon và báo cáo bền vững; nhân viên thu mua cần hiểu tiêu chí nguyên liệu và nhà cung cấp; logistics cần biết đo lường phát thải vận chuyển. Vì vậy, cần phát triển các chương trình ngắn hạn, mô-đun linh hoạt và chứng nhận kỹ năng có thể tích lũy, phù hợp với người đang đi làm.
Thứ tư, doanh nghiệp phải trở thành chủ thể của quá trình đào tạo, chứ không chỉ là nơi tiếp nhận lao động sau tốt nghiệp. Nhà trường và doanh nghiệp cần cùng xác định chuẩn đầu ra, xây dựng học phần và dự án thực tế về năng lượng, carbon, sản xuất sạch, ESG, dữ liệu và chuỗi cung ứng; mở rộng đào tạo tại doanh nghiệp và các chương trình thực tập có nội dung kỹ năng xanh. Nhà nước có thể tạo động lực thông qua các chương trình đồng tài trợ đào tạo, hỗ trợ chi phí nâng cấp kỹ năng gắn với đầu tư đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh.
Thứ năm, cần thiết kế công cụ hỗ trợ phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng tuyển chuyên gia carbon, ESG hay thành lập bộ phận phát triển bền vững riêng. Một hướng khả thi là phát triển các trung tâm hoặc dịch vụ hỗ trợ dùng chung theo ngành, cụm công nghiệp; chuẩn hóa các khóa đào tạo cơ bản về kiểm kê phát thải, hiệu quả năng lượng, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu ESG; đồng thời tăng vai trò của hiệp hội ngành nghề trong kết nối chuyên gia, trường đào tạo và doanh nghiệp. Cách làm này giúp giảm chi phí tiếp cận kỹ năng, đặc biệt đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng xuất khẩu.
Cuối cùng, phát triển nhân lực xanh cần được đặt trong một hệ sinh thái chính sách thống nhất giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và đối tác quốc tế. Chính sách đầu tư xanh, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kỹ năng không nên vận hành tách rời. Khi một doanh nghiệp được hỗ trợ đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng hay dây chuyền ít phát thải, cần đồng thời tính đến nguồn lực đào tạo người vận hành, quản lý và khai thác dữ liệu từ công nghệ đó. Nói cách khác, đầu tư cho công nghệ xanh phải đi cùng đầu tư cho kỹ năng xanh.
Chuyển đổi xanh cuối cùng diễn ra trên dây chuyền sản xuất, trong phòng kỹ thuật, bộ phận thu mua, logistics, tài chính, dữ liệu và trong từng quyết định quản trị. Vốn và công nghệ là điều kiện cần, nhưng con người mới quyết định khả năng biến yêu cầu xanh thành năng suất và lợi thế cạnh tranh. Nếu giai đoạn trước Việt Nam dựa nhiều vào lợi thế lao động dồi dào và chi phí cạnh tranh, giai đoạn tới cần chuyển lợi thế đó thành nguồn nhân lực có chuyên môn, kỹ năng số, kỹ năng xanh và khả năng thích ứng với tiêu chuẩn quốc tế. Muốn doanh nghiệp chuyển đổi xanh, trước hết phải chuyển đổi năng lực của người lao động trong doanh nghiệp.