Áp lực cạnh tranh, tiêu chuẩn khắt khe và biến đổi khí hậu, khiến ngành thủy sản cần động lực tăng trưởng mới. Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành chìa giai đoạn tới.
Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu thuỷ sản, để giữ vững đà tăng trưởng trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt, biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét và yêu cầu tiêu chuẩn nhập khẩu khắt khe hơn, ngành thủy sản cần một động lực phát triển mới. Trong đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa quan trọng giúp ngành bứt phá trong giai đoạn tới.

Theo thống kê của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản tháng 3/2026 đạt khoảng 927 triệu đô la, tăng hơn 5% so với cùng kỳ. Lũy kế quý 1 đạt 2,64 tỉ đô la, tăng gần 8%. Mức tăng này thấp hơn đáng kể so với nhịp tăng khoảng 20% của hai tháng đầu năm, phản ánh rõ hơn sự biến động của thị trường thế giới do chiến sự ở Trung Đông.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Na Uy, với sản phẩm đã có mặt tại 170 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ngành thủy sản Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển nhờ lợi thế đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km², cùng hơn 1,3 triệu ha diện tích nuôi trồng thủy sản và nguồn tài nguyên sinh vật biển phong phú với hàng chục nghìn loài và sản phẩm đặc hữu.
Theo ông Phùng Đức Tiến, mặc dù năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tác động của thiên tai, song kết quả đạt được của toàn ngành vẫn rất đáng ghi nhận. Riêng lĩnh vực thủy sản đạt sản lượng 9,5 triệu tấn, mức cao nhất từ trước đến nay; kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông, lâm, thủy sản đạt 70,61 tỷ USD, trong đó nhóm nông, lâm, thủy sản đóng góp 21,3 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp.
Dù kết quả là vậy, nhưng thực tiễn ngành vẫn đối mặt nhiều thách thức mang tính dài hạn. Một trong những vấn đề lớn là nguồn giống chất lượng cao chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất, một số phân khúc còn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Điều này ảnh hưởng đến chi phí đầu vào, khả năng chủ động sản xuất và sức cạnh tranh tổng thể.
Bên cạnh đó, môi trường nuôi trồng tại nhiều khu vực đang chịu sức ép từ ô nhiễm nguồn nước, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan và nhiệt độ tăng bất thường khiến hoạt động nuôi trồng gặp nhiều rủi ro hơn trước.
Trong khai thác biển, công nghệ bảo quản sau thu hoạch ở một số nơi còn hạn chế, làm giảm chất lượng sản phẩm và giá trị thương mại. Hệ thống logistics lạnh, kho lạnh và vận chuyển chuyên dụng tuy đã được cải thiện nhưng vẫn cần đầu tư mạnh hơn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu quy mô lớn.

Do đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của ngành thủy sản trong giai đoạn tới, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đặc biệt giai đoạn 2026 – 2030 và những năm tiếp theo.
Thứ trưởng nhấn mạnh, khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng đóng góp vào thành tựu chung của ngành nông nghiệp thời gian qua, từ phát triển hệ thống thủy lợi, nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi đến gia tăng giá trị xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thủy sản, khoa học công nghệ vẫn chưa thực sự trở thành động lực then chốt. Nhiều đề tài nghiên cứu còn phân tán, thiếu gắn kết với chuỗi giá trị, trong khi yêu cầu đặt ra hiện nay là phát triển theo hướng kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và gia tăng giá trị.
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giống vẫn là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản. Cùng với đó, nghiên cứu về thức ăn, dinh dưỡng và công nghệ nuôi cần tiếp tục được đẩy mạnh.
Theo ông Phùng Đức Tiến, nếu trước đây quá trình chuyển hóa từ nghiên cứu khoa học đến ứng dụng thực tiễn có thể kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm, thì hiện nay chu kỳ này đã được rút ngắn đáng kể, chỉ còn vài năm, thậm chí có thể diễn ra gần như ngay lập tức. Điều này cho thấy tốc độ đổi mới công nghệ trên thế giới đang diễn ra rất nhanh, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với ngành thủy sản phải chủ động thích ứng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất, chế biến và quản lý.
Từ thực tế trên, Thứ trưởng đề nghị tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học công nghệ, tạo động lực để đội ngũ nhà khoa học sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và làm giàu chính đáng từ tri thức. Đồng thời, phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Trên thực tế, ngành thủy sản đang định hướng đẩy mạnh nghiên cứu giống mới theo hướng sạch bệnh, tăng trưởng nhanh, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và môi trường Việt Nam. Đây là nền tảng để nâng cao hiệu quả nuôi trồng và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.
Song song với đó là thúc đẩy mô hình nuôi trồng thông minh, ứng dụng cảm biến, tự động hóa và dữ liệu số trong quản lý ao nuôi. Các công nghệ giám sát chất lượng nước, cho ăn tự động, cảnh báo dịch bệnh sớm sẽ giúp giảm rủi ro và tối ưu chi phí sản xuất.
Ở lĩnh vực chế biến, doanh nghiệp đang được khuyến khích đầu tư dây chuyền hiện đại, nâng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu thay vì xuất khẩu nguyên liệu thô. Đây là hướng đi quan trọng để gia tăng giá trị và xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam ở phân khúc cao cấp.
Ngoài ra, phát triển kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh cũng là mục tiêu lớn của ngành. Phụ phẩm thủy sản có thể được tận dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, collagen, dầu cá hoặc phân bón hữu cơ, vừa giảm lãng phí vừa tăng doanh thu.
Giới chuyên gia nhận định, nếu tận dụng tốt khoa học công nghệ, ngành thủy sản Việt Nam không chỉ duy trì vị thế xuất khẩu hàng đầu mà còn có thể chuyển từ tăng trưởng theo lượng sang tăng trưởng theo chất. Đây sẽ là nền tảng để thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao thu nhập cho người dân và gia tăng giá trị cho nền kinh tế quốc gia.