Không chỉ mang ý nghĩa về môi trường, tự chủ năng lượng, việc đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng sinh học còn được cho sẽ giúp tạo ra chuỗi giá trị lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
Theo lộ trình quy định tại Thông tư số 50/2025/TT-BCT, việc triển khai sử dụng xăng sinh học E10 (phối trộn 90% xăng khoáng với 10% cồn ethanol) trên toàn thị trường sẽ chính thức bắt đầu từ ngày 01/6/2026. Từ thời điểm thông tư có hiệu lực đến khi áp dụng rộng rãi có khoảng 6 tháng để các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết như nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, chuẩn bị nguồn ethanol và sắp xếp lại hệ thống pha chế, phân phối, qua đó bảo đảm quá trình chuyển đổi được thực hiện thuận lợi và đồng bộ.

Tuy nhiên, trước những thách thức về an ninh năng lượng, biến động thị trường năng lượng trên thế giới, ngày 19/3 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Chỉ thị 09/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện.
Tại Chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh sử dụng xăng sinh học (E10), đồng thời giao Bộ Công Thương rà soát toàn bộ điều kiện về nguồn cung, hạ tầng phân phối và tiêu chuẩn kỹ thuật để sớm triển khai lộ trình ngay trong tháng 4/2026. Việc chuyển đổi này được kỳ vọng góp phần giảm khoảng 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng.
Nhìn nhận về vấn đề này, không ít ý kiến cho hay, việc đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng sinh học là hướng đi đúng đắn, không chỉ góp phần giảm phụ thuộc đáng kể vào nguồn xăng khoáng, giảm ô nhiễm môi trường, mà còn giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp.

Thực tế, thống kê cho thấy, khi triển khai xăng E10 trên phạm vi toàn quốc, nhu cầu ethanol cho pha chế có thể lên tới khoảng 1,1 triệu mét khối mỗi năm. Trong khi đó, năng lực sản xuất ethanol trong nước hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu, phần còn lại phải nhập khẩu từ thị trường quốc tế.
Mặc dù Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển sản xuất ethanol nhờ lợi thế là nước nông nghiệp có nguồn nguyên liệu dồi dào như sắn, ngô và phế phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, một trong những vướng mắc được cho là rào cản hiện nay đến từ việc phần lớn ethanol trong nước hiện được sản xuất từ sắn - một loại nguyên liệu có trữ lượng hạn chế và hiệu suất thấp, chi phí sản xuất tăng cao.
Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, Việt Nam hiện có khoảng 600.000 ha sắn, sản xuất gần 10 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, tổng nhu cầu nguyên liệu của các ngành chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi và ethanol đã lên tới gần 20 triệu tấn. Sự thiếu hụt này khiến các doanh nghiệp phải phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, làm tăng rủi ro về nguồn cung và biến động giá.
Để giải quyết tình trạng này, PGS TS Chu Tiến Quang, nguyên Trưởng ban Chính sách phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đề xuất, cần mở rộng nghiên cứu và quy hoạch sang các loại nguyên liệu khác có tiềm năng cao hơn như ngô, cám gạo, phụ phẩm nông nghiệp hay thậm chí là gạo phẩm cấp thấp...
“Tại sao ta phải xuất khẩu gạo giá rẻ, trong khi có thể chế biến sang sinh học để thu được giá trị cao hơn? Nếu tận dụng cám hay gạo phẩm cấp thấp làm ethanol, người trồng lúa có thêm thu nhập, nền kinh tế cũng hưởng lợi. Việc chuyển hướng như vậy không đòi hỏi đầu tư lớn vào vùng nguyên liệu mới, mà có thể tận dụng hạ tầng sẵn có trong ngành lúa gạo, một hướng đi mang tính tuần hoàn và bền vững hơn”, vị chuyên gia này phân tích.
Còn theo đại diện Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, xăng sinh học được đánh giá là một giải pháp hiệu quả với chi phí hợp lý để giảm phát thải trong lĩnh vực giao thông. Ưu điểm của loại nhiên liệu này là có thể sử dụng trực tiếp trên các phương tiện hiện hữu mà không đòi hỏi thay đổi lớn về động cơ hay hạ tầng phân phối xăng dầu. Bên cạnh lợi ích môi trường, phát triển nhiên liệu sinh học còn góp phần tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm nông nghiệp như sắn, mía và ngô… những nguyên liệu chính để sản xuất ethanol nhiên liệu.
Hiện, Việt Nam có nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào để phục vụ sản xuất ethanol. Mỗi năm cả nước sản xuất khoảng 5 triệu tấn sắn, trong đó khoảng 1,3 triệu tấn được sử dụng cho các nhà máy ethanol. Theo dự báo, đến cuối năm 2026, nguồn cung ethanol trong nước có thể đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thị trường, phần còn lại được bổ sung từ nguồn nhập khẩu. Điều này được cho là đủ để bảo đảm nguồn cung khi xăng E10 được triển khai rộng rãi trên toàn quốc.
“Việc thúc đẩy sử dụng xăng sinh học như E5 hay E10 không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính so với xăng khoáng truyền thống mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học. Đồng thời, quá trình này cũng tạo thêm việc làm, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các vùng nguyên liệu trong cả nước”, vị đại diện này bày tỏ.