Nhà nước quản lý và ban hành chuẩn mực, dành việc vận hành kỹ thuật cho doanh nghiệp nhằm tối ưu nguồn lực xây dựng đô thị thông minh.
Theo phân tích của ông Trần Thanh Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống chính quyền không thể và không nên đứng ra vận hành tất cả mọi dịch vụ trong mô hình đô thị thông minh do hạn chế về lực lượng nhân sự chuyên trách. Nhiệm vụ cốt lõi của Nhà nước trong mô hình này là quản trị và ban hành các khung tiêu chuẩn, còn công tác vận hành các hệ thống kỹ thuật chuyên sâu nên được chuyển giao cho khối doanh nghiệp có năng lực công nghệ thực hiện.

Góc nhìn này khẳng định rằng tư duy quản trị phải luôn được đặt ở vị thế ưu tiên so với hạ tầng công nghệ. Ông Trần Thanh Tùng nhấn mạnh quan điểm “Quản trị” cần đứng trên “Công nghệ”, bởi lẽ mọi giải pháp kỹ thuật dù hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên vô giá trị nếu thiếu đi một hệ thống quản trị hiệu quả dẫn dắt. Bản chất của việc xây dựng Bản sao số đô thị (UDT) phụ vụ cho đô thị thông minh thực chất là quá trình thay đổi năng lực quản trị của bộ máy chính quyền địa phương, thay vì chỉ đơn thuần là việc mua sắm một gói giải pháp công nghệ mới.
Thực trạng hiện nay cho thấy một điểm bất thường lớn trong chiến lược đầu tư của nhiều địa phương. Các tỉnh thành thường bắt đầu bằng câu hỏi “Mua cái gì?” liên quan đến việc trang bị máy chủ, hạ tầng phần cứng trước khi xác định được các bài toán nghiệp vụ đô thị cần giải quyết. Ông Trần Thanh Tùng nhận định đây là một sai lầm về trình tự đầu tư, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực khi hạ tầng không phục vụ đúng mục tiêu quản lý thực tế.
Đi kèm với đó là sự lệch pha giữa khả năng trang bị hạ tầng và năng lực làm chủ dữ liệu. PGS TS Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ ra một nghịch lý: Các địa phương rất dễ dàng trong việc thuê ngoài hạ tầng công nghệ, nhưng lại thiếu hụt trầm trọng đội ngũ kỹ sư dữ liệu nội bộ để thực hiện quản lý các mô hình dữ liệu hiện đại. Mặc dù có thể thuê dịch vụ hạ tầng từ đối tác, chính quyền vẫn bắt buộc phải duy trì đội ngũ nhân sự nội bộ có chuyên môn sâu để thực hiện vai trò giám sát và quản lý mô hình.
Minh chứng rõ nét nhất nằm ở quy mô nhân sự tại các đơn vị đầu não về số hóa. Tại Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, trong tổng số 110 nhân sự hiện có, lực lượng chuyên trách về phần mềm và dữ liệu chiếm hơn 30 người. Con số này tại một đô thị lớn nhất nước phản ánh áp lực đè nặng lên đội ngũ quản trị khi phải vận hành khối lượng dữ liệu khổng lồ của thành phố thông minh.
Sự thành bại của một dự án đô thị thông minh không nằm ở số lượng cảm biến hay máy chủ mà phụ thuộc vào năng lực của người dẫn dắt. Đặc biệt, tiêu chuẩn về vị trí “Tổng công trình sư” của dự án đang có sự chuyển dịch về tư duy. TS Nguyễn Việt Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM, cho rằng vị trí này không nhất thiết phải là một chuyên gia kỹ thuật thuần túy về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, yêu cầu bắt buộc đối với người cầm lái là phải am hiểu tường tận cơ chế vận hành của hệ thống tổng thể và sở hữu quyết tâm chính trị đủ lớn để thúc đẩy các thay đổi về mặt quản trị và thể chế.
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân sự và tối ưu hóa vận hành, các chuyên gia đề xuất những mô hình thực thi mang tính kiến tạo hơn là làm thay doanh nghiệp. PGS TS Hoàng Hữu Hạnh kiến nghị các địa phương nên ưu tiên xây dựng những hạ tầng, nền tảng dùng chung cấp tỉnh thay vì xé lẻ đầu tư gây lãng phí. Trong mô hình này, cơ quan quản lý sẽ đóng vai trò ban hành các chuẩn mực, vận hành nền tảng chung và thực hiện giám sát tính tuân thủ của các bên tham gia.
Mô hình hiện đang được TPHCM áp dụng là một ví dụ điển hình cho sự kết hợp này. Theo ông Nguyễn Trần Phú Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TPHCM, đơn vị đang phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ để thực hiện dịch vụ thuê nhân sự chuyên trách nhằm hỗ trợ chuyên môn cho các sở ngành khác. Cách làm này giúp giải quyết nhanh chóng nhu cầu nhân lực chất lượng cao mà không làm phình to bộ máy hành chính.
Cuối cùng, chìa khóa để thúc đẩy tốc độ chuyển đổi số nằm ở việc cải cách các quy định pháp lý. PGS TS Hoàng Hữu Hạnh cho rằng dù Nhà nước có thể đưa ra các ý tưởng, nhưng thực thi công nghệ thì doanh nghiệp luôn sở hữu lợi thế nhanh hơn. TS Nguyễn Việt Long bổ sung rằng, nếu thực hiện khơi thông được các rào cản thể chế thì sẽ mở được “khóa động lực”. Khi các quy định trở nên minh bạch và thông thoáng, Nhà nước sẽ không cần phải thực hiện mọi công đoạn, doanh nghiệp sẽ chủ động tham gia đóng góp nguồn lực và công nghệ để cùng phát triển đô thị thông minh.