Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR) của EU đặt ra lộ trình rõ ràng, yêu cầu các sản phẩm bao bì khi đưa vào thị trường này phải chứa tỷ lệ phần trăm nhựa tái chế ngày càng tăng.
Quy định này trực tiếp tác động đến chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất và gia công bao bì tại Việt Nam.

Mặt khác, nguồn nguyên liệu nhựa tái chế đạt an toàn tiếp xúc với thực phẩm lại có mức giá chênh lệch lớn so với nhựa thông thường. Ông Lê Anh, Giám đốc Phát triển Bền vững Duytan Group cho biết tại hội thảo “Gia tăng giá trị từ Nhựa – Cao su Tái chế” tại TP HCM, hạt nhựa tái chế dùng cho bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm có giá bán cao gấp 1,3 lần so với hạt nhựa nguyên sinh, tương đương mức chênh lệch 30%. Đây là con số tạo nên áp lực ngân sách đáng kể đối với các đơn vị sản xuất bao bì xuất khẩu.
Doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vốn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu bên ngoài. Theo số liệu PGS TS Lê Thị Kim Oanh, Trưởng Khoa Môi trường, Trưởng Phòng Phát triển Nghiên cứu Khoa học Trường Đại học Văn Lang đưa ra thì ngành công nghiệp nhựa trong nước hiện phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu đầu vào. Sự phụ thuộc này khiến các nhà sản xuất nhạy cảm với biến động giá nguyên liệu thế giới. Khi quy định quốc tế buộc các nhãn hàng phải nâng tỷ lệ sử dụng nhựa tái sinh, chi phí mua hạt nhựa đáp ứng trở thành bài toán tài chính khó đối với toàn bộ chuỗi gia công xuất khẩu.
Sự chênh lệch giá giữa hạt nhựa tái chế và hạt nhựa nguyên sinh cho sản xuất bao bì tiếp xúc với thực phẩm xuất phát từ các yêu cầu công nghệ phức tạp cùng chi phí kiểm định khắt khe. Công nghệ tái chế chai nhựa thành chai nhựa (bottle-to-bottle) đòi hỏi hệ thống máy móc cơ học và hóa học hiện đại. Sản phẩm đầu ra bắt buộc phải đạt độ tinh khiết, tính chất lý hóa và độ an toàn tương đương hạt nhựa nguyên sinh ban đầu.
Để hạt nhựa tái sinh được phép sử dụng làm bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm như chai nước uống hay hộp đựng thức ăn, nhà sản xuất xuất khẩu phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt như FDA của Mỹ và EFSA của Châu Âu. Tại Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành tiêu chuẩn TCVN 14399:2025 quy định tiêu chuẩn chất lượng nhựa tái chế dùng cho bao bì thực phẩm. Quá trình kiểm thử kỹ thuật để đạt các chứng nhận này thường kéo dài nhiều tháng, đòi hỏi chi phí đầu tư phòng thí nghiệm và vận hành dây chuyền rất lớn.
Bên cạnh yếu tố công nghệ, hệ thống thu gom nguyên liệu đầu vào tại Việt Nam cũng đóng vai trò làm tăng chi phí sản xuất nhựa tái sinh. Theo PGS TS Lê Thị Kim Oanh, khoảng 90% lượng nhựa thu gom tại Việt Nam hiện nay vẫn thực hiện qua lực lượng ve chai tự do. Hệ thống thu gom phi chính thức này khiến nguồn rác thải nhựa bị lẫn tạp chất, thiếu chuẩn hóa và hoàn toàn không có hóa đơn chứng từ mua bán. Các nhà máy tái chế công nghệ cao phải tốn thêm nhiều chi phí cho khâu xử lý, làm sạch và phân loại nguyên liệu thô trước khi đưa vào dây chuyền tinh chế.
Mức chi phí nguyên liệu cao hơn là lý do khiến nhiều đơn vị gia công nội địa ngần ngại thay thế nhựa nguyên sinh. Kết quả là các doanh nghiệp tái chế công nghệ cao tại Việt Nam phải tìm kiếm đầu ra tại các thị trường phát triển, nơi khách hàng sẵn sàng chi trả mức giá cao để đáp ứng luật định. Ông Lê Anh cho biết Duy Tân Recycling hiện xuất khẩu tới 60% sản lượng hạt nhựa tái sinh sang thị trường Mỹ và Châu Âu. Chỉ 40% sản lượng còn lại được tiêu thụ tại thị trường trong nước.
Đối với các doanh nghiệp bao bì xuất khẩu sang EU, áp lực tuân thủ quy định PPWR đòi hỏi quy trình quản lý minh bạch. Khi khai báo với đối tác nhập khẩu, doanh nghiệp không thể tính trung bình tỷ lệ nhựa tái chế cho toàn bộ nhà máy. Các đơn vị phải kê khai riêng biệt theo từng mã sản phẩm và từng quy cách đóng gói cụ thể. Đồng thời, doanh nghiệp phải minh chứng tỷ lệ nhựa tái chế trong sản phẩm bằng hóa đơn mua hàng từ các nhà cung cấp đạt chứng nhận độc lập.
Trước những đòi hỏi khắt khe về chi phí và tiêu chuẩn kỹ thuật, ngành tái chế nhựa tại Việt Nam đang triển khai các giải pháp hạ chi phí vận hành và hoàn thiện hạ tầng pháp lý.
Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tiêu chuẩn TCVN 14399:2025 đã thiết lập hành lang kỹ thuật chính thức cho hạt nhựa tái chế dùng trong bao bì thực phẩm tại Việt Nam. Tiêu chuẩn này giúp các doanh nghiệp trong nước có căn cứ kiểm định chất lượng rõ ràng, giảm bớt thời gian và chi phí phụ thuộc hoàn toàn vào các chứng nhận nước ngoài khi cung ứng cho thị trường nội địa.
Về mặt vận hành, việc ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang giúp các nhà máy tái chế tối ưu hóa chi phí sản xuất, từng bước thu hẹp khoảng cách giá thành. Ông Lê Anh cho biết, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hệ thống phân loại có thể giúp giảm lực lượng nhân công phân loại từ 18 người mỗi giờ xuống còn 2 người mỗi ca trực, đạt công suất phân loại 2 tấn chai phế liệu mỗi giờ, tương đương khoảng 300.000 chai mỗi ngày. Độ chính xác của hệ thống đạt mức 99,8%, giúp nguyên liệu đầu vào đạt độ sạch cao trước khi bước vào khâu tái chế tinh.
Song song với cải tiến công nghệ, khung pháp lý về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP chính thức thực thi từ giữa năm 2026 sẽ thay đổi cấu trúc thị trường. Quy định bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu thực hiện tỷ lệ thu gom, tái chế sẽ tạo nguồn cung nguyên liệu ổn định và minh bạch hóa chuỗi thu gom.
Việc thực thi các quy định pháp lý EPR và hoàn thiện hạ tầng dữ liệu truy xuất sẽ giúp ngành tái chế chuyển mình. Khi thị trường nội địa hình thành các quy định bắt buộc về tỷ lệ sử dụng nhựa tái sinh trong sản phẩm, giá trị thương mại của hạt nhựa tái chế sẽ được định hình bền vững, PGS TS Lê Thị Kim Oanh nhận định.