Cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể.
Cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tổng giá trị sản xuất cơ khí năm 2018 từ khoảng 1.626,3 nghìn tỷ đồng đã tăng lên mức 3.225,5 nghìn tỷ đồng năm 2025, tương đương gần 2 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân ước khoảng 10,3%/năm. Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 384,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 1.557,7 nghìn tỷ đồng năm 2025.

Đặc biệt, với mức tăng trưởng của nền kinh tế, dung lượng thị trường cơ khí giai đoạn 2026-2045 được dự báo có thể đạt khoảng 21.699,6 nghìn tỷ đồng. Như vậy, thị trường trong nước đủ lớn để tạo động lực mới cho ngành cơ khí.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, cần lựa chọn đúng trọng tâm phát triển cho ngành. Theo đó, các lĩnh vực được khuyến nghị nên ưu tiên gồm đường sắt, năng lượng, lưới điện, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu, ô tô - xe máy, thiết bị điện, cơ khí nông nghiệp, thiết bị đồng bộ và dịch vụ kỹ thuật sau đầu tư. Đây là các lĩnh vực vừa có quy mô thị trường lớn, vừa có khả năng lan tỏa sang công nghiệp hỗ trợ và hình thành doanh nghiệp cơ khí nòng cốt.
TS Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định, cơ hội của cơ khí Việt Nam nằm ngay trong thị trường trong nước. Vấn đề then chốt là phải biến nhu cầu đầu tư thành đơn hàng cụ thể, nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cụ thể và yêu cầu nội địa hóa cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam. Nếu thiếu cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị thiết bị của các dự án lớn vẫn sẽ thuộc về nhà thầu và nhà cung cấp nước ngoài.
Vì vậy, vị chuyên gia đánh giá, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho ngành cơ khí giai đoạn 2026-2045 là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”, từng bước giúp doanh nghiệp Việt Nam thoát khỏi cảnh làm thuê ngay trên "sân nhà".

Theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đẩy mạnh công nghiệp hóa và Chiến lược phát triển ngành cơ khí, cần có chính sách đủ mạnh để biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước, thay vì để phần lớn giá trị rơi vào nhà thầu nước ngoài. Do đó, TS Phan Đăng Phong cho rằng, chỉ khi có cơ chế mang tính đột phá, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư vào các khâu cốt yếu như thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án, từ đó tạo nền tảng cho một nền công nghiệp cơ khí tự chủ hơn.
Theo đó, cơ chế, chính sách tạo đột phá trong giai đoạn tới cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam lên các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu ra. Không nên dàn trải cho toàn ngành, mà cần tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao.
Trước mắt, TS Phan Đăng Phong khuyến nghị cần phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm gắn với thị trường và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị. Đồng thời, nâng cao năng lực thiết kế, nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ. Phát triển doanh nghiệp cơ khí nòng cốt và nâng cao năng lực sản xuất; phát triển nguồn nhân lực cho ngành cơ khí.
Đặc biệt, trong bối cảnh các ngành, lĩnh vực đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, chuyên gia cho rằng, các chính sách cần tạo điều kiện từng bước đưa doanh nghiệp cơ khí Việt Nam từ vị trí chủ yếu gia công, chế tạo từng phần lên làm chủ thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổng thể, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và tổng thầu trong các lĩnh vực ưu tiên như đường sắt, điện gió ngoài khơi, điện khí, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu. Đến năm 2035, hình thành ít nhất 1 trung tâm thử nghiệm đường sắt quốc gia phục vụ mô phỏng, thử nghiệm và cấp chứng nhận độc lập.
Trong giai đoạn 2026-2035, ưu tiên lựa chọn ít nhất 1 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia cho từng nhóm sản phẩm quan trọng như thiết bị đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến khoáng sản, đóng tàu. Đồng thời đến năm 2030, trong mỗi nhóm sản phẩm ưu tiên hình thành ít nhất 1 chương trình nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm cấp quốc gia hoặc cấp bộ, gắn với doanh nghiệp nòng cốt và sản phẩm đầu ra cụ thể.