Việc EU điều chỉnh cơ chế ưu đãi thuế quan theo EVFTA đối với từng phân khúc gạo tiếp tục mở ra dư địa cho doanh nghiệp Việt Nam gia tăng xuất khẩu vào thị trường giá trị cao.
EU vừa điều chỉnh danh mục được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) áp dụng khác nhau với từng phân khúc gạo thơm, gạo trắng chất lượng cao hay gạo phục vụ chế biến.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2026 đạt 4,5 triệu tấn, kim ngạch 2,09 tỷ USD, tăng 6,6% về khối lượng và giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, EU vừa điều chỉnh cơ chế được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) áp dụng khác nhau với từng phân khúc gạo thơm, gạo trắng chất lượng cao hay gạo phục vụ chế biến. Riêng với gạo thơm, EU quy định danh mục các giống lúa được hưởng ưu đãi thuế quan cụ thể, gồm nhiều giống lúa thơm đặc sản đã được phía EU công nhận.
Điều quan trọng là doanh nghiệp phải chứng minh được tính xác thực của giống lúa. Chẳng hạn, nếu khai báo là gạo ST25 thì toàn bộ quá trình sản xuất, thu hoạch và xuất khẩu phải chứng minh được đó thực sự là giống ST25. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc chứ không phải là một rào cản kỹ thuật mới.
“Việc EU định kỳ rà soát, cập nhật danh mục giống gạo thơm là cần thiết để phù hợp với thực tiễn sản xuất. Quá trình này thường được thực hiện trên cơ sở trao đổi giữa phía EU và Việt Nam. Chúng ta chủ động đề xuất các giống mới có tiềm năng xuất khẩu để bổ sung vào danh mục ưu đãi. Do đó, không nên nhìn nhận đây là việc EU siết chặt điều kiện nhập khẩu, mà cần coi đây là cơ hội để các giống lúa mới của Việt Nam tiếp cận thị trường giá trị cao”, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định.
Cũng nhìn nhận đây là cơ hội, ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam cho hay, xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện không chỉ dựa vào một phân khúc mà bao gồm nhiều nhóm sản phẩm khác nhau như gạo đặc sản, gạo thơm, gạo chất lượng cao, gạo phục vụ chế biến.
Theo ông Lê Thanh Tùng, thị trường EU mang đến một định hướng rất quan trọng cho ngành lúa gạo Việt Nam. Không chỉ yêu cầu về chất lượng sản phẩm, EU còn đặt ra các tiêu chuẩn cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, tổ chức vùng nguyên liệu và tính bền vững trong sản xuất. Để đáp ứng những yêu cầu này, doanh nghiệp buộc phải xây dựng các vùng nguyên liệu ổn định, liên kết chặt chẽ với nông dân và duy trì chất lượng sản phẩm trong nhiều năm liên tục.
“Việc duy trì và mở rộng sự hiện diện tại thị trường EU không chỉ giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn đóng vai trò như “tấm giấy thông hành” để gạo Việt Nam bước vào các thị trường cao cấp khác trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia hay Bắc Mỹ. Khi chất lượng được chứng minh bằng thực tế thị trường và các tiêu chuẩn quốc tế, thương hiệu gạo Việt Nam sẽ ngày càng được củng cố, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành lúa gạo trong những năm tới”, ông Lê Thanh Tùng nhấn mạnh.

Khẳng định các hiệp định thương mại tự do (FTA) tiếp tục mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu gạo chất lượng cao trong đó có EVFTA, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Lộc Trời nhận định, cam kết hiện hành của nhiều thị trường như Liên minh châu Âu, Canada và Vương quốc Anh đang áp dụng ưu đãi thuế quan đáng kể đối với gạo Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu thành công gần 400 tấn gạo thơm chất lượng cao sang thị trường châu Âu, cho thấy khả năng đáp ứng các yêu cầu khắt khe về chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là cơ sở để mở rộng thị phần tại các phân khúc giá trị cao trong thời gian tới.
Do đó, ông Huỳnh Văn Thòn nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc cần được xem là nền tảng quản lý của toàn bộ chuỗi sản xuất, từ giống, vật tư đầu vào đến chế biến và lưu thông. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ không chỉ giúp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mà còn góp phần bảo vệ thương hiệu gạo Việt trên thị trường thế giới.