Từ những doanh nghiệp chỉ tồn tại trên giấy đến các đường dây mua bán hóa đơn hoạt động có tổ chức, thủ đoạn gian lận thuế đang ngày càng tinh vi, gây thất thu ngân sách và làm méo mó môi trường kinh doanh.
Chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng được thiết kế nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hóa đơn điện tử, nhiều thủ đoạn gian lận mới cũng xuất hiện, trong đó nổi lên tình trạng thành lập doanh nghiệp "ma", mua bán hóa đơn khống để hợp thức hóa chi phí, khấu trừ hoặc chiếm đoạt tiền hoàn thuế.

Theo thông tin từ Cục Thuế, các hành vi vi phạm liên quan đến hóa đơn hiện không còn diễn ra đơn lẻ mà ngày càng có xu hướng tổ chức thành các đường dây với nhiều mắt xích, hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau. Một số đối tượng lập doanh nghiệp chỉ nhằm mục đích phát hành hóa đơn, tạo chứng từ khống phục vụ các giao dịch không có thật.
Đây được xác định là nhóm có mức độ rủi ro cao nhất. Các doanh nghiệp này thường không có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất nhưng lại phát sinh doanh thu lớn, xuất số lượng hóa đơn có giá trị cao trong thời gian ngắn. Nhiều trường hợp chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi thay đổi địa chỉ hoặc ngừng hoạt động nhằm tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng.
Theo cơ quan thuế, một số dấu hiệu thường gặp ở nhóm doanh nghiệp này là quy mô rất nhỏ, số lao động ít, đăng ký nhiều ngành nghề khác nhau nhưng không chứng minh được năng lực hoạt động thực tế. Không ít trường hợp xuất hiện tình trạng hóa đơn đầu vào được lập sau hóa đơn đầu ra, hàng hóa mua vào và bán ra phát sinh gần như cùng thời điểm với giá trị tương đương.
Dòng tiền cũng là dấu hiệu đáng chú ý. Nhiều tài khoản ngân hàng có doanh số giao dịch lớn nhưng số dư rất thấp, tiền được chuyển qua nhiều khâu rồi nhanh chóng rút ra. Bên cạnh đó, một số đối tượng còn thuê người đứng tên doanh nghiệp hoặc sử dụng thông tin giả để che giấu chủ thể thực sự điều hành phía sau.
Qua công tác quản lý, ngành thuế đã nhận diện bốn nhóm đối tượng có nguy cơ cao liên quan đến hành vi mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn.
Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích mua bán hóa đơn. Đây là nhóm thường xuất hiện trong các vụ việc có tính chất tổ chức, với nhiều doanh nghiệp trung gian tham gia để tạo vỏ bọc cho các giao dịch không có thật.
Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế nhưng cố tình mua hóa đơn để nâng khống chi phí, giảm số thuế phải nộp hoặc phục vụ mục đích hoàn thuế.
Nhóm thứ ba là các cá nhân, hộ kinh doanh có phát sinh giao dịch thực tế nhưng không đủ điều kiện xuất hóa đơn hợp pháp. Để hợp thức hóa chứng từ, các đối tượng này tìm đến các nguồn cung cấp hóa đơn bất hợp pháp. Tình trạng này thường xuất hiện trong lĩnh vực vận tải, vật liệu xây dựng, khai thác đất, đá, cát, sỏi hoặc kinh doanh hàng nhập khẩu.
Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp lợi dụng đặc thù hoạt động bán lẻ. Khi người tiêu dùng không yêu cầu lấy hóa đơn, phần doanh thu đó có thể bị biến thành nguồn hóa đơn đầu ra để bán cho các đơn vị có nhu cầu hợp thức hóa chi phí hoặc kê khai thuế.
Theo đánh giá của cơ quan thuế, những hành vi này không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh. Trong khi nhiều doanh nghiệp chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế, một số đơn vị lại tìm cách giảm chi phí hoặc hưởng lợi thông qua các chứng từ không phản ánh giao dịch thực tế.
Số liệu từ Cục Thuế cho thấy, riêng năm 2025, cơ quan này đã tiếp nhận 6.972 công văn, giấy giới thiệu từ cơ quan công an đề nghị cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác điều tra, xác minh các vụ việc liên quan đến lĩnh vực thuế. Con số này phần nào phản ánh mức độ phức tạp của các hành vi vi phạm cũng như sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa cơ quan thuế và lực lượng chức năng trong đấu tranh với tội phạm kinh tế.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh nội dung này, Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng, việc mua bán và sử dụng trái phép hóa đơn không còn là hành vi vi phạm đơn lẻ, mà đã được tổ chức thành chuỗi với sự tham gia của nhiều cá nhân, doanh nghiệp nhằm hợp thức hóa chi phí, khấu trừ thuế hoặc chiếm đoạt tiền hoàn thuế.
Theo Luật sư Phong, điều đáng lo ngại là các đường dây này tạo ra một hệ thống chứng từ có vẻ hợp pháp, khiến việc nhận diện giao dịch thật - giả trở nên khó khăn hơn. Khi hóa đơn khống được sử dụng để làm sai lệch nghĩa vụ thuế hoặc phục vụ hành vi chiếm đoạt tiền hoàn thuế, hậu quả không chỉ dừng ở thất thu ngân sách mà còn tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư, kinh doanh.
“Trong nhiều vụ việc, doanh nghiệp “ma” chỉ là phần nổi của tảng băng. Phía sau đó có thể là cả một chuỗi tổ chức, cá nhân cùng hưởng lợi. Vì vậy, việc xử lý cần hướng tới toàn bộ đường dây, từ đơn vị phát hành hóa đơn, doanh nghiệp trung gian cho tới các tổ chức, cá nhân sử dụng hóa đơn để trục lợi”, luật sư Nguyễn Thanh Phong nhận định.
Cũng theo vị luật sư, bên cạnh việc rà soát doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro, cơ quan chức năng cần tăng cường đối chiếu dữ liệu hóa đơn với dòng tiền, lao động, kho bãi, phương tiện vận chuyển và năng lực hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
“Chỉ khi bóc tách được toàn bộ chuỗi giao dịch và các mắt xích hưởng lợi, việc ngăn chặn tình trạng mua bán hóa đơn khống mới đạt hiệu quả bền vững”, Luật sư Phong nhấn mạnh.