Từ vụ án Thiên Minh Đức với việc phát hành hóa đơn khống cho thấy một chiêu “vá” sổ sách: hợp thức xăng dầu bán ngoài kê khai, cân đối thuế và che dòng tiền…
Trong các vụ án kinh tế lớn thời gian gần đây, hóa đơn khống không còn đơn thuần là công cụ phục vụ hành vi trốn thuế. Từ vụ án xảy ra tại Tập đoàn Thiên Minh Đức, cơ quan tố tụng đã phần nào cho thấy một thực tế đáng chú ý hơn: hóa đơn khống đang bị biến thành “giải pháp kỹ thuật” để hợp thức lại sổ sách kế toán và dòng tiền doanh nghiệp.

Theo hồ sơ vụ án, Công ty Thiên Minh Đức bị xác định đã bán 78.375.011 lít xăng dầu cho 25 công ty với tổng trị giá hơn 1.056 tỷ đồng nhưng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định. Ngoài ra, doanh nghiệp này còn bán hơn 28,7 triệu lít xăng dầu cho khách vãng lai, trị giá hơn 310 tỷ đồng mà không lập hóa đơn.
Tuy nhiên, sau khi lượng lớn hàng hóa đã được bán ra ngoài hệ thống kê khai, doanh nghiệp lại tiếp tục xuất khống 153 hóa đơn giá trị gia tăng cho 21 công ty khác với tổng khối lượng hơn 72 triệu lít xăng dầu. Theo cáo trạng, số hóa đơn này được sử dụng nhằm hợp thức chứng từ kế toán, kê khai thuế và cân đối hồ sơ tài chính. Cơ quan điều tra xác định hành vi này giúp các bên liên quan thu lợi bất chính hơn 20,6 tỷ đồng.
Đáng chú ý, hồ sơ vụ án còn thể hiện Công ty Thiên Minh Đức xuất trả 13 hóa đơn cho một doanh nghiệp khác với khối lượng hơn 97,1 triệu lít xăng dầu, liên quan việc kê khai, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu với số tiền hơn 11,8 tỷ đồng.
Một số luật sư cho rằng, nhìn bề ngoài, đó đều là những chứng từ kế toán hợp lệ. Nhưng phía sau lại là cả một quá trình “vá” lại hệ thống sổ sách đã phát sinh chênh lệch từ trước. Bởi khi hàng hóa thực tế đã bán ra nhưng không xuất hóa đơn, doanh thu phát sinh ngoài hệ thống kê khai bắt đầu tạo ra những “khoảng trống” trong dữ liệu kế toán. Tiền có thể đã thu. Hàng có thể đã giao. Nhưng hồ sơ chứng từ lại không phản ánh đầy đủ giao dịch thực tế. Khi đó, hóa đơn khống trở thành công cụ để hợp thức lại số liệu trên giấy tờ.
Có doanh nghiệp cần hóa đơn đầu vào để cân đối kê khai thuế. Có trường hợp cần chứng từ để giải trình dòng tiền. Có nơi phải xử lý lượng hàng đã bán ngoài sổ sách hoặc hợp thức các khoản thanh toán không đủ hồ sơ kế toán. Nếu trước đây hành vi mua bán hóa đơn thường gắn với mục đích giảm nghĩa vụ thuế thì nay nhiều trường hợp còn phục vụ việc cân đối tài chính, xử lý doanh thu ngoài hệ thống kê khai hoặc hợp thức dòng tiền.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh vụ án này, Luật sư Nguyễn Thanh Phong – Trưởng chi nhánh Công ty Luật Sa Vĩ tại Hà Nội cho rằng bản chất của hóa đơn giá trị gia tăng là chứng từ phản ánh giao dịch kinh tế thực tế phát sinh. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp sử dụng hóa đơn không có hàng hóa, dịch vụ đi kèm nhằm hợp thức hồ sơ kế toán hoặc che giấu doanh thu thực tế thì hành vi này không còn đơn thuần là sai phạm về chứng từ.

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, trong nhiều vụ án kinh tế lớn, hóa đơn khống thường xuất hiện sau khi doanh nghiệp đã phát sinh hoạt động mua bán ngoài hệ thống kê khai. Khi dòng tiền và hàng hóa thực tế không còn khớp với sổ sách, doanh nghiệp sẽ tìm cách bổ sung chứng từ để “vá” lại dữ liệu kế toán.
“Điều đáng lo là hóa đơn khống hiện không còn xuất hiện theo kiểu đơn lẻ mà đang hình thành những mắt xích liên kết giữa nhiều doanh nghiệp với nhau. Có đơn vị cần đầu vào. Có nơi cần xử lý doanh thu ngoài sổ sách. Có bên đóng vai trò trung gian phát hành chứng từ. Tất cả tạo thành vòng luân chuyển hóa đơn khá phức tạp”, Luật sư Nguyễn Thanh Phong nhận định.
Từ vụ án Thiên Minh Đức có thể thấy hóa đơn giờ đây không chỉ là chứng từ kế toán thông thường, mà ở một số trường hợp còn bị biến thành công cụ xử lý những “lỗ hổng” tài chính phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Nguy hiểm hơn, khi hóa đơn khống bị xem như một “giải pháp kỹ thuật” để hợp thức sổ sách, ranh giới giữa hoạt động kế toán hợp pháp và hành vi gian lận tài chính cũng trở nên mong manh hơn rất nhiều.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Phong, nếu tình trạng này kéo dài không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp.
“Bởi trong khi nhiều doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai, nộp thuế thì những đơn vị sử dụng hóa đơn khống có thể tạo ra “lợi thế” bất hợp pháp về chi phí, doanh thu và dòng tiền”, ông Phong nói.