Xuất khẩu tôm duy trì tăng trưởng nhưng đang chậm lại trước sức ép thuế quan, đặc biệt tại thị trường Mỹ. Doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh chiến lược, đa dạng hóa thị trường và kiểm soát chi phí để giữ đơn hàng, bảo toàn lợi nhuận.
Theo số liệu Hải quan Việt Nam, tháng 9/2026, xuất khẩu tôm đạt 467,9 triệu USD, tăng 4% so với cùng kỳ nhưng giảm nhẹ so với tháng 8. Lũy kế 9 tháng đạt 3,7 tỷ USD, tăng 11%. So với mức tăng 14% trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng đang chậm lại.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 37%, chiếm 33% tổng kim ngạch. Nếu tính cả Hồng Kông, xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD, tăng 35%. Nhu cầu đối với tôm hùm, đặc biệt là tôm hùm xanh, tiếp tục đóng góp đáng kể vào kết quả này.
Trong khi đó, xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 498 triệu USD, giảm 15%; riêng tháng 9 giảm tới 32%. EU cũng giảm 4,9%, đạt 406,4 triệu USD, trong đó tháng 9 giảm 12,5%.
Ở chiều tích cực, Nhật Bản đạt 440,9 triệu USD, tăng 6,4%; Australia đạt 211,9 triệu USD, tăng 18,5%; Canada đạt 130,5 triệu USD, tăng 11%. Xuất khẩu sang khối CPTPP đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 10,2%, góp phần giảm bớt tác động từ sự suy giảm tại Mỹ và EU.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) cho hay, dù xuất khẩu tôm 9 tháng vẫn duy trì tăng trưởng nhờ thị trường Trung Quốc và một số thị trường trong khối CPTPP, đà tăng đang chậm lại khi xuất khẩu sang Mỹ và EU suy giảm.
Cùng với đó, áp lực thuế quan, cạnh tranh quốc tế cùng những khó khăn về nguyên liệu đang đặt ra không ít thách thức cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.
Theo bà Phùng Thị Kim Thu, chuyên gia Vasep, Mỹ tiếp tục là một trong những thị trường nhiều thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam những tháng cuối năm. Bởi không chỉ chịu thêm 12,5% thuế Section 301, một số doanh nghiệp tôm Việt Nam còn đang chịu đồng thời thuế chống bán phá giá (AD) và thuế chống trợ cấp (CVD).
Bên cạnh yếu tố chính sách, sức mua chưa phục hồi rõ rệt cùng sự cạnh tranh từ các nguồn cung lớn như Ecuador và Ấn Độ cũng ảnh hưởng đến khả năng duy trì đơn hàng và lợi thế về giá của doanh nghiệp Việt Nam.
Đáng chú ý, kết quả cuối cùng của kỳ rà soát thuế chống bán phá giá POR20 dự kiến được công bố trong tháng 11/2026 là vấn đề được doanh nghiệp và nhà nhập khẩu theo dõi sát sao. Những bất định liên quan đến mức thuế có thể khiến nhà nhập khẩu thận trọng hơn khi ký kết hợp đồng, đàm phán giá và xây dựng kế hoạch mua hàng cho giai đoạn cuối năm 2026 cũng như đầu năm 2027.

Báo cáo phân tích về CTCP Thực phẩm Sao Ta của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) công bố cho thấy, doanh thu mảng tôm của Sao Ta trong quý II/2026 giảm 11% so với cùng kỳ. Sản lượng tiêu thụ giảm 8%, trong khi giá bán bình quân giảm 3%, xuống khoảng 334.000 đồng/kg. Nguyên nhân quan trọng đến từ việc doanh nghiệp chủ động hạn chế xuất khẩu sang Mỹ trong bối cảnh chờ kết quả rà soát thuế chống bán phá giá kỳ POR20.
VDSC cho biết Sao Ta đang chịu sức ép từ các biện pháp thuế tại thị trường Mỹ, bao gồm thuế chống bán phá giá và thuế theo Điều 301. Những bất lợi này khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh cơ cấu thị trường, tăng cường xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản. VDSC dự báo giá trị xuất khẩu tôm của Sao Ta sang Mỹ năm 2026 giảm tới 52%, còn khoảng 64 triệu USD, kéo tỷ trọng xuống 25%.
Trong bối cảnh đó, theo khuyến nghị của bà Kim Thu, doanh nghiệp xuất khẩu cần đánh giá kỹ hiệu quả từng đơn hàng, kiểm soát chi phí và các điều khoản hợp đồng, đồng thời chủ động trao đổi với khách hàng về khả năng điều chỉnh giá, thời gian giao hàng và phân bổ rủi ro. Duy trì khách hàng truyền thống, phát triển sản phẩm chế biến sâu và mở rộng sang các thị trường có triển vọng cũng là những giải pháp cần thiết để hạn chế tác động từ biến động chính sách thương mại.
Trong ngắn hạn, doanh nghiệp cần ưu tiên hiệu quả đơn hàng, kiểm soát chi phí và hạn chế rủi ro thương mại thay vì chỉ tập trung mở rộng kim ngạch. Về dài hạn, nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, đa dạng hóa thị trường và tăng cường liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến sẽ là những yếu tố quan trọng giúp ngành tôm Việt Nam củng cố sức cạnh tranh và duy trì tăng trưởng bền vững.
Trong năm ngoái, toàn ngành thủy sản thu 11,3 tỷ USD từ xuất khẩu, riêng tôm đóng góp 4,83 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm trước đó, chiếm trên 42% tổng kim ngạch.
Quý cuối cùng của năm nay, nếu duy trì xuất khẩu 470 - 480 triệu USD/tháng, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu tôm cả năm 2026 đạt 5,1 - 5,2 tỷ USD.