Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, mở ra nhu cầu lớn về dịch vụ chăm sóc và công nghệ. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới sáng tạo và tham gia phát triển nền kinh tế bạc.
Việt Nam đang đối mặt với một câu hỏi cấp thiết: ai sẽ chăm sóc lực lượng người cao tuổi đang gia tăng nhanh chóng? PGS Catherine Earl - Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng câu trả lời nằm ở việc phát triển một nền kinh tế chăm sóc toàn diện, vượt khỏi phạm vi bệnh viện và viện dưỡng lão, nhằm tạo thêm việc làm, hỗ trợ các gia đình, đồng thời mở ra cơ hội đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.
Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, giá trị của việc chăm không lương ước tính vào khoảng 3,8 nghìn tỉ đô la Mỹ. Trong khi đó, nền kinh tế bạc của Việt Nam, tập trung vào các giải pháp chăm sóc tại nhà, được dự báo sẽ gần như tăng gấp đôi giá trị, từ 2,6 tỉ đô la Mỹ năm 2023 lên 4,8 tỉ đô la Mỹ vào năm 2034.
“Sự phát triển của ‘nền kinh tế bạc’ là một trong những chuyển dịch quan trọng mà Việt Nam đang trải qua trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng, quy mô gia đình ngày càng thu hẹp và dân số già hóa nhanh”. - PGS Catherine Earl nói.
Theo bà, mô hình kinh tế chăm sóc không nên chỉ tập trung vào việc cung cấp phúc lợi xã hội mà cần hướng tới xây dựng một nền kinh tế chăm sóc bền vững và toàn diện. Nhiều trụ cột của nền kinh tế chăm sóc cần được tích hợp và hỗ trợ để tôn trọng và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn.
Bà cũng chỉ ra lộ trình phát triển kinh tế chăm sóc mà Indonesia vừa công bố như một ví dụ mà Việt Nam có thể tham khảo. Chiến lược này kết hợp chăm sóc trẻ em, chăm sóc dài hạn, bình đẳng giới và phát triển nguồn nhân lực. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), lộ trình này có thể tạo ra khoảng 10,4 triệu việc làm vào năm 2035.
PGS Catherine Earl nhấn mạnh rằng nhiều khía cạnh quan trọng của công tác chăm sóc vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức. “Những lĩnh vực của nền kinh tế chăm sóc vẫn còn vô hình bao gồm chăm sóc sức khỏe tinh thần và phúc lợi của người cao tuổi, sa sút trí tuệ khởi phát sớm tại nơi làm việc, dịch vụ chăm sóc cuối đời chất lượng cao, học tập suốt đời, tập luyện thể chất, dinh dưỡng, các nhóm bạn bè, chương trình hỗ trợ xã hội và các mô hình chăm sóc liên thế hệ dành cho cả người cao tuổi lẫn trẻ em” - PGS Catherine Earl nói.

Việc phát triển một nền kinh tế chăm sóc bền vững cũng đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ của lực lượng lao động.
PGS Catherine Earl đề xuất ba ưu tiên chính sách bổ trợ lẫn nhau: đào tạo linh hoạt tại nơi làm việc, phát triển các chương trình đào tạo chính quy và thu hút lao động nhập cư tay nghề cao.
“Ba giải pháp chính sách có mối liên kết chặt chẽ sẽ giúp đáp ứng nhu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực. Trước hết, đào tạo tại nơi làm việc là yếu tố then chốt” - PGS Catherine Earl cho biết.
Bà cho rằng các chứng chỉ vi mô, những mô-đun đào tạo ngắn, tập trung vào kỹ năng và được đánh giá ngay tại nơi làm việc, có thể nhanh chóng nâng cao năng lực của người làm công tác chăm sóc, đồng thời mang lại các chứng nhận được công nhận chính thức.
“Các chứng chỉ vi mô rất hữu ích vì giúp phát triển kỹ năng cập nhật theo cách linh hoạt” - PGS Catherine Earl nói thêm.
Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với khu vực nông thôn Việt Nam, nơi khoảng 70% người cao tuổi đang sinh sống và các dịch vụ hỗ trợ chính thức vẫn còn hạn chế. Nhiều phụ nữ hiện đảm nhận phần lớn việc gia đình nhưng chưa có bằng cấp chính thức. Do đó, các chứng chỉ vi mô có thể giúp ghi nhận và nâng cao những kỹ năng sẵn có này.
PGS Catherine Earl cũng cho rằng các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần mở rộng các chương trình đào tạo liên quan đến nền kinh tế chăm sóc. “Khi Việt Nam phát triển năng lực trong giáo dục xuyên quốc gia, đào tạo về nền kinh tế chăm sóc có thể trở thành một yếu tố giúp thu hút sinh viên quốc tế” - bà cho biết.
Bà cũng đề xuất xây dựng các chương trình đào tạo lại dành cho lao động ở giai đoạn giữa sự nghiệp và phụ nữ quay lại thị trường lao động, qua đó vừa giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực trong tương lai vừa mở ra những hướng nghề nghiệp hấp dẫn.
Trong ngắn hạn, bà cho rằng Việt Nam cũng nên cân nhắc thu hút có chọn lọc lao động kỹ năng cao, đặc biệt là các chuyên gia lão khoa giàu kinh nghiệm và những chuyên gia trong các lĩnh vực mà trong nước hiện vẫn đang xây dựng năng lực.

Mặc dù các dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp sẽ ngày càng quan trọng, bà nhấn mạnh rằng chăm sóc dựa vào gia đình vẫn nên là nền tảng của hệ thống chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam.
“Chăm sóc người cao tuổi tại gia là chuyện tất nhiên ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác. Điều đó không nên bị xem là một vấn đề. Phần lớn người cao tuổi đều mong muốn được chăm sóc tại nhà hơn là sống trong các cơ sở dưỡng lão” - PGS Earl cho biết.
Đồng thời cho rằng, thay vì bỏ qua gia đình, chính sách nên tập trung hỗ trợ họ thông qua đào tạo tốt hơn, mở rộng dịch vụ cộng đồng và phân chia trách nhiệm chăm sóc một cách công bằng hơn.
Theo bà, việc chăm sóc cần được chia sẻ giữa các giới và các thế hệ để phụ nữ không còn phải gánh phần lớn trách nhiệm. “Điều này đòi hỏi xã hội chấp nhận hai thay đổi trong cách nhìn về công việc chăm sóc. Thứ nhất, xã hội cần chấp nhận vai trò chăm sóc của nam giới. Thứ hai, xã hội cần hiểu và khuyến khích thay đổi những kỳ vọng truyền thống đối với sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động, giúp họ thoát khỏi gánh nặng kép của công việc được trả lương và công việc không lương” - PGS Earl cho biết.
Nhiều quốc gia đã thử nghiệm các mô hình kinh tế chăm sóc mới. Năm 2024, Diễn đàn Kinh tế thế giới giới thiệu nhiều sáng kiến như Care Blocks tại Bogotá (Colombia), cung cấp dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi và hỗ trợ tìm việc cho người làm công tác chăm sóc, mô hình Buurtzorg của Hà Lan, trong đó các y tá tự quản lý công việc chăm sóc tại cộng đồng, hay nền tảng quản lý chăm sóc số của Paraguay giúp mở rộng dịch vụ đến các khu vực xa xôi và thiếu nhân lực.
Nhiều chương trình trong nền kinh tế chăm sóc hướng tới việc hỗ trợ phụ nữ, nhóm hiện đang đảm nhận phần lớn công việc chăm sóc, đồng thời tháo gỡ các rào cản để tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động.
Bên cạnh phát triển nguồn nhân lực, bà cho rằng nền kinh tế bạc cũng mở ra nhiều cơ hội đổi mới công nghệ.
Bên cạnh nền kinh tế chăm sóc, sự xuất hiện của một nền kinh tế mới dựa trên chuyển đổi số trong bối cảnh già hóa dân số mang đến cơ hội cho những người trẻ am hiểu công nghệ và các doanh nhân đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế bạc, đồng thời hỗ trợ người cao tuổi sống khỏe mạnh hơn.
Bà nhận thấy tiềm năng lớn của các nền tảng y tế số, công cụ giao tiếp số và các giải pháp công nghệ hướng tới người cao tuổi AgeTech khác trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đặc biệt khi dân số Việt Nam tiếp tục già hóa.
Tuy nhiên, bà cũng lưu ý rằng công nghệ không phải là lời giải duy nhất. Việc ứng dụng thành công phụ thuộc vào hạ tầng internet ổn định, hỗ trợ kỹ thuật và các chương trình đào tạo giúp người cao tuổi tự tin sử dụng các công cụ số một cách độc lập. Đồng thời, cần có các cơ chế bảo vệ về mặt đạo đức để bảo đảm công nghệ sẽ nâng cao, chứ không làm suy giảm, quyền tự chủ và quyền riêng tư của người cao tuổi.
Hướng đến tương lai, PGS Catherine Earl cho rằng Việt Nam có cơ hội thay đổi cách xã hội nhìn nhận công việc chăm sóc.
“Việc chuyển đổi cách nhìn về chăm sóc người cao tuổi từ việc không lương hoặc dịch vụ, thành một trụ cột kinh tế, cũng như xem đây là trách nhiệm của toàn xã hội sẽ giúp bình thường hóa và xóa bỏ những định kiến về việc chăm sóc người cao tuổi” - PGS Earl nói.
Bà cũng đề xuất các doanh nghiệp có thể đóng vai trò lớn hơn bằng cách đưa đào tạo và hoạt động tình nguyện chăm sóc người cao tuổi vào các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bởi trách nhiệm chăm sóc ngày càng ảnh hưởng đến người lao động ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế.