Các chuyên gia cho rằng các quốc gia Đông Nam Á cần có giải pháp ứng phó căng thẳng năng lượng kéo dài nếu eo biển Hormuz vẫn bị gián đoạn.

Các chính phủ Đông Nam Á đã dành nhiều tháng nỗ lực nhằm giảm thiểu tác động từ giá năng lượng leo thang do căng thẳng Trung Đông.
Tuy nhiên, đợt bùng phát căng thẳng mới nhất đã làm dấy lên nỗi lo ngại về một đợt gián đoạn nguồn cung nhiên liệu thứ hai trên toàn khu vực, nơi nhiều nền kinh tế vẫn phụ thuộc nặng nề vào dầu mỏ nhập khẩu và các tuyến đường vận tải biển gắn liền với Vùng Vịnh.
Các nhà phân tích nhận định việc thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran sụp đổ đã làm lộ rõ những điểm yếu cốt lõi trong khả năng tự bảo vệ của khu vực Đông Nam Á trước căng thẳng dầu mỏ từ bên ngoài.
Bà Joanne Lin, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện ISEAS - Yusof Ishak kiêm học giả thỉnh giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế MIT, cho biết các nền kinh tế Đông Nam Á vẫn phụ thuộc rất lớn vào dầu nhập khẩu và các tuyến hàng hải kết nối với Vùng Vịnh.
Bà cho biết chi phí năng lượng tăng cao cũng lan sang cả giá phân bón, thực phẩm, vận tải và sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc các chính phủ sẽ phải tiếp tục đa dạng hóa nhà cung cấp, xây dựng nguồn dự trữ, cung cấp các gói hỗ trợ đúng đối tượng, đồng thời đẩy nhanh tiến độ phát triển năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học và kết nối năng lượng khu vực.
Dù đã rút ra được một số bài học trong những tháng qua, bà Lin cho rằng khu vực này không thể hoàn toàn cô lập mình khỏi một cuộc xung đột kéo dài nếu eo biển Hormuz tiếp tục bị gián đoạn.
Đồng quan điểm, ông Collins Chong Yew Keat, nhà phân tích đối ngoại, an ninh và chiến lược tại Đại học Malaya, chia sẻ rằng ASEAN vẫn chưa rút ra được bài học sâu sắc mang tính cấu trúc từ cuộc khủng hoảng do khu vực này vẫn thiếu một hệ thống an ninh năng lượng vận hành hiệu quả, chưa có các cơ chế tập thể như quỹ dự trữ dầu mỏ chiến lược hay nền tảng mua sắm tập trung.
"ASEAN có thể ra tiếng nói chung như đã làm ở Manila để kêu gọi chấm dứt ngay lập tức các hành vi thù địch và khôi phục sự lưu thông an toàn, tự do qua Eo biển Hormuz. Nhưng khi nguồn cung thực tế bị đe dọa, các quốc gia thành viên phần lớn lại quay về tự dựa vào các giải pháp cấp quốc gia và song phương," ông nói.
Do các nước nhiều khả năng sẽ dựa vào các biện pháp nội địa để xử lý áp lực bên ngoài, nên phản ứng trên toàn khu vực sẽ không đồng đều, trong đó một số nền kinh tế dễ bị tổn thương hơn những nước khác.
Ông Hunter Marston, Giám đốc chương trình Đông Nam Á tại Viện Lowy nhận định các biện pháp được triển khai cho đến nay mới chỉ mang tính ngắn hạn, thể hiện sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan từ những quốc gia như Indonesia và sự biến động lớn hơn đối với các nước khác như Philippines trước mặt bằng giá nhiên liệu hiện tại.
Malaysia và Indonesia, hai quốc gia xuất khẩu dầu dừa, dầu cọ lớn đã mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học từ dầu cọ để giảm phụ thuộc vào dầu diesel truyền thống. Trong khi đó, các quốc gia khác lại thúc đẩy các nguồn năng lượng thay thế, đặc biệt là cho xe điện.
Singapore đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang xe điện thông qua chính sách hỗ trợ mạnh mẽ và hạ tầng trạm sạc trên toàn quốc; trong khi Lào đang mở rộng tỷ lệ sử dụng xe điện thông qua các mục tiêu điện hóa và hợp tác năng lượng sạch xuyên biên giới.
Việt Nam cũng đã và đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, trong đó có việc sử dụng nhiên liệu sinh học; phát triển các loại nhiên liệu bền vững mới và mở rộng tỷ trọng năng lượng tái tạo; đồng thời nâng cao hiệu suất sử dụng điện và nhiên liệu tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp và hộ gia đình...
Nếu phản ứng đầu tiên của các quốc gia đối với căng thẳng năng lượng là các biện pháp giảm chấn trong nước, thì phản ứng dài hạn nhiều khả năng sẽ là cuộc tìm kiếm rộng lớn hơn các nhà cung cấp và đối tác. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng điều này chưa chắc đã dẫn đến một sự tái định hình địa chính trị toàn diện.
"Chúng ta có thể sẽ thấy sự đa dạng hóa nhiều hơn là một sự tái định hình địa chính trị toàn diện," bà Joanne Lin nói và cho biết thêm ASEAN có thể thắt chặt quan hệ năng lượng với Nga, các nhà sản xuất Vùng Vịnh, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia, tùy thuộc vào việc ai có thể cung cấp nguồn dầu mỏ, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), tài chính và sự hỗ trợ khẩn cấp đáng tin cậy.
Mặc dù Mỹ vẫn là nhà xuất khẩu dầu khí lớn, ông Marston cho rằng Trung Quốc có lẽ vẫn là đối tác quan trọng đối với nhiều quốc gia nhờ quy mô dự trữ chiến lược khổng lồ.
Đông Nam Á cũng có thể tiếp tục xích lại gần Nga khi nước này xây dựng nguồn dự trữ và nâng cao khả năng tự cường trong an ninh năng lượng, nhưng các lệnh trừng phạt, rủi ro bảo hiểm và thanh toán sẽ giới hạn mức độ mở rộng của mối quan hệ đó.
Trừ khi cuộc khủng hoảng tạo ra được một nghị định thư chia sẻ dầu mỏ mang tính ràng buộc, các nguồn dự trữ chiến lược chung và các quy tắc phân bổ khẩn cấp được thống nhất, ông Chong Yew Keat cho rằng an ninh năng lượng chung của ASEAN có thể vẫn sẽ đối mặt nhiều thách thức.