Việc Mỹ đưa ra các quan ngại về sở hữu trí tuệ (SHTT) trong khuôn khổ điều tra theo Mục 301 khiến bài toán thực thi của Việt Nam thêm sức ép thương mại.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, bà Trần Thị Kiều Hoa, Luật sư chủ hợp danh BMVN International - Liên minh chiến lược của Baker McKenzie Việt Nam, cho rằng chống hàng giả, kiểm soát biên giới và năng lực chứng minh tuân thủ sẽ là những vấn đề cần ưu tiên trong ngắn hạn.
USTR đã nêu 5 nhóm quan ngại chính trong Báo cáo đặc biệt 301 năm 2026 và trong thông báo khởi xướng điều tra. Trong ngắn hạn, hai nhóm vấn đề có khả năng được USTR coi là trọng tâm là chống hàng giả trên diện rộng và thực thi tại biên giới.
Ngược lại, các vấn đề như bản quyền trực tuyến hay phần mềm không có bản quyền tuy nghiêm trọng, nhưng thường khó chuyển hóa ngay thành cơ sở định lượng cho biện pháp thương mại so với các vi phạm liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã khác với thời điểm USTR công bố điều tra. Trong phản hồi chính thức gửi USTR, Chính phủ Việt Nam lập luận rằng phần lớn các vấn đề được nêu phản ánh khó khăn trong quá trình chuyển đổi bộ máy và năng lực thực thi, chứ không phải sự suy giảm cam kết chính sách.
Đồng thời, Việt Nam đã công bố một Kế hoạch hành động về SHTT với các cam kết cụ thể về chống hàng giả, thực thi tại biên giới, xử lý vi phạm trên môi trường số và tăng cường điều tra hình sự. Theo cách nhìn này, câu hỏi đối với USTR từ nay đến khi ban hành kết luận cuối cùng sẽ không chỉ là "Việt Nam đang ở đâu", mà còn là "Việt Nam có thực hiện được những gì đã cam kết hay không".
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, rủi ro trước mắt không chỉ là rủi ro pháp lý trong từng vụ việc cụ thể, mà còn là rủi ro thương mại và uy tín trong chuỗi cung ứng. Một vụ việc liên quan đến hàng giả, xâm phạm nhãn hiệu, sử dụng thiết kế không được phép hoặc phần mềm không có bản quyền có thể dẫn tới việc bị giữ hàng, bị nhà nhập khẩu yêu cầu giải trình, bị rà soát lại hợp đồng cung ứng hoặc bị đưa vào hồ sơ chính sách của USTR như một ví dụ bất lợi. Vì vậy, bài toán SHTT trong giai đoạn này không nên được nhìn thuần túy như một vấn đề pháp lý, mà là một phần của quản trị rủi ro thương mại với thị trường Mỹ.
Kinh nghiệm từ các vụ việc theo Báo cáo đặc biệt 301 trước đây cho thấy USTR thường đặt trọng tâm vào kết quả thực thi có thể kiểm chứng hơn là chỉ ghi nhận thay đổi trong khuôn khổ pháp luật. Vì vậy, trong giai đoạn từ nay đến khi có kết luận cuối cùng, điều quan trọng nhất đối với Việt Nam là tạo ra các kết quả đầu ra rõ ràng, có số liệu và có thể đối chiếu được theo thời gian.
Các ưu tiên nên bao gồm chứng minh hoạt động chống hàng giả được đẩy mạnh hơn sau giai đoạn tái cơ cấu bộ máy; công bố số liệu thực thi theo nhóm hành vi và theo kênh vi phạm, đặc biệt là thương mại điện tử; tăng số vụ chuyển xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT nghiêm trọng; tăng mức độ chủ động của hải quan trong phát hiện và tạm dừng thông quan hàng hóa nghi vấn; và thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan thực thi, chủ thể quyền và nền tảng số. Đây là các chỉ số mà phía Mỹ có thể quan sát và kiểm chứng tương đối dễ dàng.

Một điểm tích cực là Chính phủ Việt Nam đã công khai kế hoạch hành động với các mục tiêu cụ thể, từ tăng cường xử lý vi phạm, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi SHTT, cho tới sửa đổi Luật Hải quan và các quy định liên quan. Để kế hoạch này có sức thuyết phục thực tế, Việt Nam nên ưu tiên các mốc thực hiện ngắn hạn, công khai tiến độ ở mức phù hợp và lựa chọn một số lĩnh vực có tác động cao để tạo kết quả sớm, thay vì dàn trải nguồn lực trên quá nhiều đầu việc.
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần rà soát toàn bộ chuỗi cung ứng của mình dưới góc độ SHTT và biến việc tuân thủ SHTT thành một phần của quy trình quản trị rủi ro xuất khẩu.
Nhiều doanh nghiệp thường tập trung vào tiêu chuẩn chất lượng, lao động hoặc môi trường nhưng ít chú ý tới rủi ro SHTT. Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp nên kiểm tra lại nguyên phụ liệu, thiết kế, logo, khuôn mẫu, nhãn mác, bao bì và các yếu tố nhận diện thương hiệu; lưu hồ sơ về quyền sử dụng nhãn hiệu, thiết kế và bản quyền; kiểm soát nhà thầu - bảo đảm rà soát và kiểm soát triệt để về các rủi ro xâm phạm quyền SHTT. Điều này đặc biệt quan trọng vì bất kỳ vụ giữ hàng hoặc khiếu nại nào tại thị trường Mỹ trong thời gian điều tra đều có thể trở thành ví dụ bất lợi trong hồ sơ của USTR.
Thứ hai, doanh nghiệp nên hoàn tất việc hợp pháp hóa toàn bộ phần mềm đang sử dụng trong hoạt động sản xuất, quản lý và kinh doanh của mình. Đây là một trong những lĩnh vực doanh nghiệp có thể chủ động xử lý nhanh nhất, thông qua kiểm kê phần mềm, lưu chứng từ mua bản quyền, kiểm soát cài đặt trái phép và đưa yêu cầu tuân thủ phần mềm vào quy trình kiểm toán nội bộ.
Thứ ba, doanh nghiệp nên chuẩn bị bộ hồ sơ tuân thủ phục vụ nhà nhập khẩu Mỹ, bao gồm hồ sơ nguồn gốc nguyên phụ liệu, quyền sử dụng nhãn hiệu và thiết kế, hợp đồng với nhà cung cấp, quy trình xử lý khiếu nại SHTT và phương án phản ứng nếu hàng hóa bị giữ hoặc bị yêu cầu giải trình. Doanh nghiệp chuẩn bị tốt từ bây giờ sẽ có lợi thế đáng kể khi nhà nhập khẩu Mỹ tăng yêu cầu kiểm tra chuỗi cung ứng.
Về mặt thực hành, doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng một checklist ngắn: kiểm kê nhãn hiệu, thiết kế và phần mềm đang sử dụng; rà soát hợp đồng với nhà cung cấp và nhà thầu phụ; lưu chứng từ quyền sử dụng tài sản trí tuệ; thiết lập đầu mối nội bộ phụ trách phản hồi khiếu nại SHTT; và cập nhật định kỳ hồ sơ tuân thủ để có thể cung cấp nhanh cho khách hàng hoặc cơ quan chức năng khi cần.
- Trân trọng cảm ơn bà!