UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, định hướng phát triển đô thị theo mô hình “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”.
Đồng thời, thành phố cũng lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái và văn hóa chủ đạo. Việc TP Hà Nội chính thức phê duyệt Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn kéo dài 100 năm đang mở ra định hướng phát triển mới cho đô thị lớn nhất cả nước.
.jpeg)
Theo quyết định vừa được thông qua, phạm vi lập quy hoạch bao trùm toàn bộ địa giới hành chính Hà Nội với quy mô khoảng 3.359,84km2.
Quy hoạch mới đặt ra bài toán dài hạn về dân số và không gian đô thị. Dự báo đến năm 2035, dân số Hà Nội vào khoảng 14 - 15 triệu người; đến năm 2065 đạt khoảng 17 - 19 triệu người và được kiểm soát ở ngưỡng tối đa dưới 20 triệu người trong dài hạn. Sau năm 2085, quy mô dân số cơ bản được duy trì ổn định nhằm bảo đảm cân bằng giữa hạ tầng kỹ thuật, môi trường và chất lượng sống đô thị.
Điểm nhấn đáng chú ý trong quy hoạch lần này là định hướng phát triển sông Hồng thành trục không gian trung tâm của Thủ đô. Dòng sông được xác định giữ vai trò kết nối Hà Nội với vùng đồng bằng sông Hồng, khu vực trung du, miền núi phía Bắc cùng các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế.
Không chỉ là trục cảnh quan sinh thái, khu vực hai bên sông Hồng còn được định hướng trở thành cực tăng trưởng mới của Hà Nội, tích hợp các chức năng tài chính, thương mại, văn hóa, dịch vụ và du lịch.
Trên hành lang đại lộ cảnh quan sông Hồng, thành phố dự kiến hình thành hệ thống cảng khách, cảng du lịch và bến thủy nội địa phục vụ phát triển du lịch kết hợp quốc phòng, an ninh. Trong khi đó, các cảng hàng hóa và cảng tổng hợp tại khu vực trung tâm sẽ từng bước được chuyển đổi công năng sang phục vụ du lịch, dịch vụ nhằm tái thiết không gian ven sông theo hướng sinh thái và đô thị dịch vụ hiện đại.
Song song với định hướng mở rộng không gian phát triển, Hà Nội cũng đặt mục tiêu khôi phục các dòng sông nội đô và hệ thống thủy văn tự nhiên. Theo quy hoạch, nhiều tuyến sông như Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, Tích và Cầu Bây sẽ được nghiên cứu phục hồi. Thành phố đồng thời xem xét xây dựng các đập dâng trên sông Hồng và sông Đuống nhằm cải thiện chất lượng nguồn nước, giảm nguy cơ ngập úng và nâng cao hiệu quả quản lý lưu vực.
Về mục tiêu phát triển, đến năm 2035, Hà Nội hướng tới trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao và là điểm đến hấp dẫn, an toàn trong khu vực.

Thành phố cũng đặt tham vọng phát triển các trung tâm giáo dục, y tế chất lượng cao nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời hình thành các trung tâm tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quy mô khu vực và quốc tế.
Theo định hướng dài hạn, đến năm 2045, Hà Nội sẽ trở thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương. Đến năm 2065, Thủ đô hướng tới vị thế “thành phố toàn cầu”, có chất lượng sống và chỉ số hạnh phúc thuộc nhóm cao trên thế giới.
Tầm nhìn sau năm 2085, Hà Nội được định hình là siêu đô thị bền vững tiêu biểu của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng và phát triển trên nền tảng “Thịnh vượng - Hài hòa - Văn hiến - Bản sắc”.
Theo quy hoạch được phê duyệt, Hà Nội tương lai sẽ là đô thị kết nối toàn cầu dựa trên nền tảng nghìn năm văn hiến, nơi hội tụ các dòng chảy thương mại, tri thức và đổi mới sáng tạo, đồng thời hoàn thiện cấu trúc đô thị đa trung tâm cùng nền kinh tế không gian hiện đại.
Bàn về tầm nhìn Hà Nội 100 năm, KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cho hay, vấn đề cốt lõi quyết định tính khả thi của quy hoạch là nguồn lực thực hiện. Đây không chỉ là nguồn lực từ ngân sách nhà nước, mà cần huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, bao gồm khu vực tư nhân và cả các nguồn lực quốc tế.
“Một trong những tồn tại nhiều năm qua là thiếu nguồn lực và cơ chế thực hiện. Vì vậy, để quy hoạch thành công, Hà Nội cần có đột phá về thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ chế thu hút đầu tư và huy động nguồn lực từ toàn xã hội”, ông nhấn mạnh.
Ông cũng đặt vấn đề với các chỉ tiêu lớn như tăng dân số, mở rộng đô thị hay kế hoạch di dời dân cư khỏi khu vực trung tâm: “Muốn làm được phải trả lời rõ nguồn lực ở đâu, cơ chế nào và người dân có đồng thuận hay không”.
Theo ông, di dời dân cư không đơn thuần là “chuyển chỗ ở”, mà gắn với sinh kế, hạ tầng dịch vụ, trường học, y tế, việc làm. Nếu nơi tái định cư thiếu tiện ích, thiếu kết nối, chuyện người dân “không về ở” là điều tất yếu và đã từng xảy ra. “Bài học quá khứ cho thấy nói di dân khu trung tâm không phải mới, nhưng triển khai rất khó, nhiều việc vẫn chưa làm được”, ông Nghiêm nói.
Bên cạnh đó, áp lực giao thông sẽ tiếp tục gia tăng nếu không có giải pháp đột phá, đặc biệt là phát triển hệ thống giao thông công cộng và đường sắt đô thị, nhằm giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.