Trong bối cảnh quốc tế phức tạp, gián đoạn chuỗi cung ứng, chi phí tăng cao, để đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số", nhiều ý kiến cho rằng cần làm rõ nguồn lực tăng trưởng.

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu tổng quát phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên...
Bước sang năm 2026, trong bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường gây gián đoạn chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải tăng cao, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Kết quả những tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, GDP quý I ước tăng 7,83%, có 4 địa phương tăng trưởng trên 10%; chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,51%; thu ngân sách 3 tháng đạt khoảng 829,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4%.
Hoạt động đầu tư và thương mại duy trì đà tăng trưởng, với vốn FDI thực hiện đạt 5,4 tỷ USD (tăng 9,1%), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 249,5 tỷ USD (tăng 23%). Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%; du lịch phục hồi mạnh với gần 6,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4%...
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, kinh tế vĩ mô chịu tác động bất lợi từ bên ngoài; mục tiêu tăng trưởng “2 con số” là thách thức lớn; sức mua trong nước còn thấp; xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI; thị trường bất động sản phục hồi chậm; thủ tục hành chính còn rườm rà; năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế; tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp.
Trước thực tế này, Chính phủ đã đặt ra yêu cầu xuyên suốt là điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ; bảo đảm ổn định vĩ mô; tăng thu ngân sách khoảng 10%, tiết kiệm chi thường xuyên và huy động hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Đẩy mạnh ba động lực tăng trưởng gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công; kích cầu tiêu dùng; phát triển thị trường trong nước; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đặt trọng tâm vào cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển công nghiệp hiện đại, nông nghiệp bền vững, dịch vụ và du lịch, phấn đấu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026. Đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; song song với đó là hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, phấn đấu cắt giảm 50% thời gian và chi phí tuân thủ;...
Thảo luận về giải pháp thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển tại Kỳ họp vừa qua, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng đề nghị Chính phủ làm rõ thêm 2 vấn đề.
Thứ nhất, cần xác định rõ thứ tự ưu tiên chính sách trong trường hợp có xung đột giữa mục tiêu tăng trưởng cao với yêu cầu giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, an toàn nợ công và an toàn hệ thống tài chính.
Thứ hai, cần làm rõ nguồn lực cho tăng trưởng, đâu là nguồn vốn có thể huy động ngay trong năm 2026, đâu là nguồn còn phụ thuộc vào thị trường, thủ tục hoặc mức độ hấp thụ của nền kinh tế.
Theo đại biểu, thực tế nhiều năm cho thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiếu vốn mà còn nằm ở giải ngân chậm, chuẩn bị đầu tư yếu, thủ tục kéo dài, phân bổ dàn trải, dự án thiếu tính lan tỏa, năng lực thực hiện ở địa phương không đồng đều. Vì vậy, Chính phủ cần đánh giá, chỉ rõ hơn cơ chế khắc phục tình trạng nêu trên để biến nguồn lực thành tăng trưởng thực, hiệu quả thực và kết quả phải đo đếm được.
Còn theo đại biểu Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, trong bối cảnh nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh dẫn vốn khác, như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán hay thu hút vốn từ bên ngoài còn hạn chế.
Đại biểu cho rằng, nếu tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức khoảng 15% thì rất khó tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên. “Nói cách khác, nếu dòng vốn cho nền kinh tế không được khơi thông tương xứng, thì mục tiêu tăng trưởng cao sẽ rất khó đạt được.
Do đó, đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước cần có đánh giá tổng thể, toàn diện hơn về cung - cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt hơn, có trọng tâm, trọng điểm.
“Cần xem xét nới hạn mức tín dụng có chọn lọc, ưu tiên các ngân hàng thương mại có chất lượng tài sản tốt, nợ xấu thấp, để dòng vốn được dẫn vào đúng khu vực sản xuất - kinh doanh, thay vì áp dụng một mức trần mang tính cơ học cho toàn hệ thống”, đại biểu gợi ý.
Cùng với những vấn đề đã nêu, nhiều ý kiến cũng cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng, cần xây dựng khung pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới như khai thác không gian tầm thấp, không gian ngầm và kinh tế biển xanh. Những vấn đề như quyền sở hữu theo chiều sâu đất đai hay sinh kế trong nuôi biển công nghệ cao cần được luật hóa, qua đó tạo động lực tăng trưởng bền vững trong dài hạn.