Không ít mô hình lừa đảo được đặt dưới hình thức hợp đồng, góp vốn, đầu tư hoặc mua dịch vụ, khiến ranh giới giữa tranh chấp dân sự và hành vi lừa đảo ngày càng khó nhận diện.
Từ các vụ lừa đảo đa cấp, đầu tư tài chính, góp vốn kinh doanh đến vụ hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ đang được cơ quan chức năng điều tra, có thể thấy một mô típ ngày càng phổ biến: các giao dịch đều được thiết kế dưới dạng hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết dân sự khá bài bản.

Điển hình như với vụ hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, khách hàng thường được tư vấn về những quyền lợi hấp dẫn như ưu đãi nghỉ dưỡng, khả năng chuyển nhượng, mua lại hoặc sinh lời sau một thời gian nhất định. Sau đó, giao dịch được hoàn tất bằng hợp đồng, phiếu thu, điều khoản thanh toán cùng nhiều cam kết quyền lợi.
Nhìn bề ngoài, đây là một giao dịch dân sự thông thường giữa doanh nghiệp và khách hàng. Nhưng khi quyền lợi thực tế không đúng như những gì được tư vấn, hoặc các cam kết quan trọng không được thực hiện, bản chất vụ việc lại không còn đơn giản như hình thức thể hiện trên giấy tờ.
Điều đáng chú ý là trong nhiều vụ việc, khi bị khiếu nại hoặc tố giác, lập luận quen thuộc thường được đưa ra là các bên đã tự nguyện ký kết, có hợp đồng, có chứng từ, nên nếu phát sinh bất đồng thì đây chỉ là tranh chấp dân sự.
Các chuyên gia pháp lý nhận định rằng, cách lập luận này không mới. Trong nhiều vụ đa cấp biến tướng, đầu tư tài chính trá hình hay góp vốn kinh doanh, hợp đồng, thỏa thuận, biên bản giao dịch thường được sử dụng như một vỏ bọc pháp lý nhằm khiến giao dịch trông giống quan hệ dân sự thông thường.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp xung quanh nội dung này, Luật sư Tạ Anh Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH Tạ Anh Tuấn cho rằng, đây đang là một trong những thủ pháp khá phổ biến của nhiều mô hình lừa đảo hiện nay.

Theo Luật sư Tuấn, khác với trước đây, nhiều đối tượng hiện không còn sử dụng những cách thức lừa đảo quá lộ liễu mà chủ động xây dựng hồ sơ giao dịch khá chặt chẽ, từ hợp đồng, phiếu thu đến các điều khoản pháp lý.
“Mục đích không chỉ để tạo niềm tin cho người tham gia, mà còn để tạo sẵn một lớp vỏ pháp lý nhằm hợp thức hóa giao dịch và chuẩn bị lập luận đối phó nếu vụ việc bị tố giác”, Luật sư Tạ Anh Tuấn nhận định.
Theo Luật sư Tuấn, sai lầm phổ biến trong nhiều vụ việc là chỉ nhìn vào hợp đồng đã ký để kết luận đây là quan hệ dân sự.
“Điều cần xem xét không phải chỉ là hợp đồng có tồn tại hay không, mà là hợp đồng đó được hình thành như thế nào. Nếu sự đồng ý của khách hàng xuất phát từ thông tin sai lệch, từ những cam kết không có thật hoặc từ hành vi che giấu thông tin quan trọng, thì bản hợp đồng không thể tự nó loại trừ dấu hiệu lừa đảo”, Luật sư Tuấn nhấn mạnh.
Cũng theo Luật sư Tạ Anh Tuấn, để nhận diện bản chất vụ việc, cần nhìn vào toàn bộ quá trình giao dịch chứ không chỉ dừng ở giấy tờ đã ký. Theo đó, các yếu tố cần đặc biệt lưu ý gồm nội dung quảng cáo, cách tư vấn, mức độ cam kết lợi nhuận hoặc quyền lợi, khả năng thực hiện các cam kết và cách dòng tiền được sử dụng sau khi khách hàng giao tiền.
“Trong nhiều trường hợp, hợp đồng chỉ là phần nổi của giao dịch. Bản chất vụ việc lại nằm ở toàn bộ quá trình dẫn tới việc khách hàng quyết định giao tiền. Một bản hợp đồng không đương nhiên biến giao dịch có dấu hiệu gian dối thành quan hệ dân sự”, Luật sư Tạ Anh Tuấn phân tích.