Trước những “nút thắt” đang hiện hữu, để khơi dòng vốn cho tài sản trí tuệ, một số ý kiến cho rằng, cần xem xét cơ chế phối hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý...
Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự đều cho phép thế chấp quyền tài sản trí tuệ, tuy nhiên trên thực tế, hoạt động này gần như “đóng băng” hoặc chỉ phát sinh ở mức độ rất hạn chế.

Nguyên nhân của hiện trạng này được cho xuất phát từ các rào cản bao gồm: Thứ nhất, tài sản sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, giá trị phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường và sự thay đổi của công nghệ. Trong khi đó, Việt Nam hiện còn thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp có đủ năng lực, thiếu cơ sở dữ liệu so sánh và chưa có hệ thống tiêu chuẩn định giá thống nhất được hệ thống ngân hàng chấp nhận;
Thứ hai, thị trường giao dịch với quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện gần như chưa hình thành, làm giảm khả năng thu hồi vốn của tổ chức tín dụng; Thứ ba, rủi ro pháp lý vẫn hiện hữu do văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ hiệu lực trong thời gian thế chấp hoặc quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xâm phạm, dẫn đến tổn thất về kinh tế.
Trước những “nút thắt” đang hiện hữu, để khơi dòng vốn cho tài sản trí tuệ, ông Nguyễn Hoàng Giang - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất, cần xem xét cơ chế phối hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý để bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ cho các bên liên quan, qua đó hỗ trợ kiểm soát rủi ro.

Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cũng đặt vấn đề về khả năng đề xuất một cơ chế thử nghiệm, theo đó, cho phép một số ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có thế mạnh trong cho vay doanh nghiệp, được thí điểm cấp tín dụng có bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ với cơ chế trích lập dự phòng rủi ro linh hoạt hơn trong giai đoạn đầu.
“Thay vì chờ quyền sở hữu trí tuệ đủ điều kiện thế chấp hoàn toàn, ngân hàng có thể cân nhắc chấp nhận quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản bảo đảm bổ sung, với tỷ lệ nhất định bên cạnh tài sản hữu hình, hoặc xem xét hình thức bảo đảm bằng quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ dòng tiền doanh thu của sản phẩm gắn với quyền sở hữu trí tuệ”, vị này bày tỏ.
Đối với việc nhận tài sản bảo đảm là tài sản công nghệ, đại diện Vietcombank cho rằng, trong bối cảnh còn nhiều điểm nghẽn, giải pháp khả thi và có thể triển khai nhanh nhất là cơ chế bảo lãnh thông qua một quỹ công nghệ có tiềm lực tài chính.
Theo đó, quỹ này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay và sẵn sàng nhận mua lại tài sản bảo đảm là tài sản công nghệ khi cần thiết, trên cơ sở định giá của tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp, có chuyên môn phù hợp với loại tài sản đặc thù này.
Giải pháp này được kỳ vọng sẽ giúp hóa giải các vướng mắc liên quan đến định giá, thanh khoản và xử lý tài sản bảo đảm, qua đó tạo điều kiện để dòng vốn tín dụng từng bước chảy vào lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, các vấn đề mang tính dài hạn như hoàn thiện khung pháp lý hay giảm thiểu rủi ro pháp lý cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện theo lộ trình phù hợp.
Liên quan đến vấn đề khơi dòng vốn cho tài sản trí tuệ, ông Phạm Nghiêm Xuân Bắc, Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ cho rằng, thực tế, vấn đề này đã được thảo luận trong khu vực ASEAN từ 15-20 năm trước. Những quốc gia được coi là đi đầu như Singapore hay Malaysia cũng đã triển khai nhưng gặp nhiều khó khăn, cho thấy đây là lĩnh vực đặc biệt phức tạp. Do đó, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình được đánh giá là thành công hơn như Hàn Quốc hoặc Trung Quốc.
Theo đại diện Hội Sở hữu trí tuệ, trong quá trình thực hiện cần tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế, bởi nếu rủi ro pháp lý quá lớn thì các tổ chức tín dụng và cán bộ tín dụng sẽ không sẵn sàng tham gia. Trên thực tế, ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có cơ sở rõ ràng về khả năng thu hồi vốn. Do đó, không nên coi sáng chế như một tài sản tự thân có thể ngay lập tức tạo ra dòng tiền.
“Sáng chế là một bộ phận của công nghệ và chỉ thực sự có giá trị khi gắn với dự án cụ thể, có phương án kinh doanh và dòng tiền rõ ràng. Trong hoạt động cấp tín dụng, quyền sở hữu trí tuệ nên được xem là yếu tố bảo đảm bổ trợ, chỉ được xử lý khi phương án kinh doanh không đạt kỳ vọng, thay vì là căn cứ duy nhất để cho vay”, vị này góp ý.