Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hướng tới hỗ trợ có trọng tâm, có thời hạn, đồng thời sàng lọc doanh nghiệp đủ năng lực để tránh phân tán nguồn lực Nhà nước.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XVI đã cho ý kiến về Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Dự thảo), trong đó nhiều ý kiến đề nghị phải thiết kế cơ chế hỗ trợ có trọng tâm, đúng đối tượng, đồng thời kiểm soát chặt nguy cơ nguồn lực Nhà nước bị phân tán hoặc hỗ trợ kéo dài đối với những doanh nghiệp đã đủ năng lực phát triển.

Trình bày tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Chính phủ đề xuất nâng cấp và đổi tên thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017.
Dự thảo luật xác định rõ nguyên tắc hỗ trợ phải có trọng tâm, có thời hạn và gắn với kết quả đầu ra. Đồng thời thực hiện hỗ trợ theo lộ trình nâng cấp doanh nghiệp - từ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, siêu nhỏ lên nhỏ, từ nhỏ lên vừa và từ vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn.
Đặc biệt, Dự thảo chuyển tư duy từ "Nhà nước hỗ trợ cái mình có" sang "hỗ trợ thứ doanh nghiệp cần". Theo đó, ngân sách nhà nước không chỉ để “chi hỗ trợ” mà sẽ đóng vai trò vốn dẫn dắt, chia sẻ rủi ro và huy động thêm nguồn lực xã hội cho phát triển doanh nghiệp.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi khu vực kinh tế tư nhân phải mở rộng cả về quy mô và chất lượng, các nhóm DNNVV được lựa chọn ưu tiên hỗ trợ là các doanh nghiệp có khả năng tạo ra sự chuyển đổi rõ nét; có năng suất cao hơn, liên kết tốt hơn.
Cho ý kiến góp ý Dự thảo, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc sửa luật phải tạo ra bước đột phá về chính sách, chuyển từ phương thức hỗ trợ theo khả năng cung cấp của Nhà nước sang hỗ trợ theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Đánh giá sự thay đổi tích cực của dự thảo khi bỏ tiêu chí tổng nguồn vốn - vốn "khó xác định và dễ gây tranh cãi" - song Chủ tịch Quốc hội lưu ý phải tính toán kỹ các rủi ro có thể phát sinh.
Đơn cử, ngưỡng doanh thu 400 tỷ đồng vẫn có thể "lọt" một số doanh nghiệp đã có năng lực rất tốt vào diện được hỗ trợ, từ đó làm loãng nguồn lực quốc gia.
Ngoài ra, tiêu chí lao động có thể chưa phản ánh đúng thực tế của các doanh nghiệp công nghệ cao - sử dụng rất ít nhân sự nhưng lại có doanh thu lớn và giá trị gia tăng cao. Do đó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị cần có cơ chế sàng lọc khi doanh nghiệp vượt ngưỡng liên tục từ 2 đến 3 năm, tránh tình trạng “nhận hỗ trợ mãi không thôi”.
“Với bất kỳ doanh nghiệp nào, câu hỏi đầu tiên luôn là tiền đâu và vốn ở đâu. Có vốn thì mới có mặt bằng sản xuất, có vốn mới mua sắm được thiết bị và ứng dụng khoa học công nghệ”, Chủ tịch Quốc hội nêu, đồng thời lưu ý việc cấp phép thành lập doanh nghiệp thì dễ nhưng quản lý và sàng lọc lại khó.
Thực tế, có doanh nghiệp theo kiểu "tay không bắt giặc", đăng ký thành lập chỉ để mua bán hóa đơn chứng từ và gian lận thương mại. Vì vậy, việc mở rộng hỗ trợ cần đi cùng cơ chế sàng lọc, đánh giá năng lực và kiểm soát mục tiêu sử dụng nguồn lực.
Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn đề xuất nghiên cứu cơ chế cho doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng được nộp thuế theo doanh thu, thay vì tính thuế trên phần doanh thu sau khi trừ chi phí.
Theo ông Tuấn, với quy mô doanh thu này, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các yêu cầu về sổ sách kế toán, trong đó có tới 4 loại sổ, khiến chi phí và gánh nặng tuân thủ trở nên đáng kể so với năng lực thực tế. Đặc biệt, việc xác định, tập hợp và chứng minh chi phí đầu vào là không đơn giản đối với các hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ.

“Doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh việc tính toán chi phí rất phức tạp. Một hàng phở làm sao chứng minh được con gà mua ở đâu mà có hóa đơn, chứng từ?”, ông Tuấn nêu.
Theo đại diện VCCI, chuyển sang phương thức tính thuế trên doanh thu sẽ giúp đơn giản hóa nghĩa vụ thuế, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi hơn cho nhóm kinh doanh quy mô nhỏ. Chính sách này, nếu được áp dụng, có thể tác động tới khoảng 5-6 triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, qua đó tạo hiệu ứng xã hội đáng kể.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Thị Cẩm Giang - Giảng viên Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng cho rằng, đây cũng là nhóm đối tượng cần được ưu tiên giảm chi phí tuân thủ, bởi mục tiêu của Luật Phát triển DNNVV không chỉ là hỗ trợ những doanh nghiệp đã có năng lực tăng trưởng mà còn phải tạo điều kiện để hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ có thể từng bước chính thức hóa, nâng cấp và mở rộng quy mô.
Tuy nhiên, hỗ trợ phải đi cùng nguyên tắc có thời hạn và có điều kiện. Khi doanh nghiệp đã đạt đến một mức độ nhất định về doanh thu, lao động, năng lực tài chính hoặc khả năng cạnh tranh, việc tiếp tục hưởng chính sách hỗ trợ cần được đánh giá lại. Nếu thiếu cơ chế "thoát hỗ trợ", chính sách có thể vô tình tạo ra tâm lý phụ thuộc, thậm chí khuyến khích doanh nghiệp duy trì quy mô dưới ngưỡng để tiếp tục được hưởng ưu đãi.
Bởi vậy, việc xây dựng Luật Phát triển DNNVV cần giải đồng thời hai bài toán hỗ trợ đủ mạnh để doanh nghiệp có thể lớn lên và thiết kế đủ chặt để doanh nghiệp không có động lực phụ thuộc vào hỗ trợ. Đây cũng là lý do tiêu chí xác định DNNVV, cơ chế sàng lọc, thời hạn hỗ trợ và đánh giá kết quả cần được xem là những cấu phần quan trọng của chính sách, thay vì chỉ tập trung vào việc mở rộng thêm các hình thức ưu đãi.