Nhu cầu về bán dẫn tiếp tục tăng, một số doanh nghiệp Việt đang tiến sâu vào ngành công nghiệp này nhưng chưa đủ mạnh mẽ để hình thành chuỗi cung ứng nội địa.
Trong khi đó, xu hướng hội tụ giữa bán dẫn, quang điện tử, AI, robot công nghiệp đang tái định hình chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Cạnh tranh công nghệ vì thế không chỉ dừng một sản phẩm riêng lẻ mà là cạnh tranh về năng lực làm chủ và tích hợp nhiều nền tảng công nghệ trong chuỗi giá trị.
Nhu cầu về bán dẫn tiếp tục được thúc đẩy mạnh bởi AI, trung tâm dữ liệu, tính toán hiệu năng cao và các hệ thống kết nối thông minh. Tổ chức Thống kê thương mại bán dẫn thế giới dự báo thị trường bán dẫn toàn cầu tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm 2026.

Song song với đó, tự động hóa tiếp tục mở rộng nhanh. Theo Liên đoàn Robot quốc tế, khoảng 542.000 robot công nghiệp được lắp đặt trên toàn cầu trong năm 2024. Trong đó, châu Á chiếm 74% số lượng triển khai mới.
Tại Việt Nam, nhu cầu ứng dụng chip trong nhiều lĩnh vực sản xuất như ô tô, sản phẩm điện tử tiêu dùng… tăng nhanh. Nhu cầu lớn vì thế đang mở rộng dư địa phát triển cho ngành bán dẫn.
Nhấn mạnh dư địa phát triển rộng mở của ngành bán dẫn, song ông Võ Xuân Hoài - Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cũng nhìn nhận khoảng trống cốt lõi vẫn nằm ở năng lực làm chủ công nghệ, nguồn nhân lực chuyên sâu và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong các khâu có giá trị gia tăng cao. Mục tiêu trong giai đoạn tới không chỉ là tham gia chuỗi cung ứng, mà phải từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Đề cập cụ thể hơn đến chuỗi cung ứng bán dẫn, tại toạ đàm gần đây, ông Louis Cao - Giám đốc vận hành Mạng lưới Đổi mới sáng tạo bán dẫn Việt Nam thông tin: Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ thể hiện qua dòng vốn đầu tư, hoạt động sản xuất, kiểm thử, đóng gói và nguồn nhân lực.
Trong sự dịch chuyển đó, Việt Nam có thể đón đầu các cơ hội. Nhưng ở một ngành mà không một quốc gia nào có thể làm tất cả mọi công đoạn như bán dẫn thì Việt Nam cần lựa chọn hướng đi phù hợp.
Hướng đi này, một mặt cần dựa trên điều kiện của từng địa phương, từng đơn vị và từng doanh nghiệp. Mặt khác cần tính đến lựa chọn những thị trường ngách để thay vì cạnh tranh trực tiếp ở những phân khúc cơ bản mà các quốc gia khác đã phát triển rất mạnh.
Một số hướng đi được ông Louis Cao đề cập để xem xét là thiết kế vi mạch, lĩnh vực chuyên biệt phục vụ những ứng dụng đặc thù. Đặc biệt là chuỗi cung ứng thiết bị bán dẫn, cung ứng các linh kiện, phụ kiện, bộ phận cho những máy móc được sử dụng trong sản xuất bán dẫn. Lĩnh vực gắn với những nền tảng như kỹ thuật nghiên cứu, kỹ thuật cơ khí chính xác mà Việt Nam đã có quá trình phát triển.

Để từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu, ông Louis Cao cho rằng Việt Nam cần lấp đầy khoảng trống lớn trong liên kết cộng đồng. Theo chuyên gia, nhiều công ty, nhà đầu tư tại Việt Nam đã tham gia vào ngành bán dẫn, thậm chí có những doanh nghiệp tham gia rất sâu vào một lĩnh vực.
Tuy vậy, sự tham gia này ở mức riêng lẻ. Việt Nam chưa có một cộng đồng bán dẫn liên kết chặt chẽ, nhất là chưa có một chuỗi cung ứng bán dẫn nội địa.
Quan điểm này nhận được sự đồng thuận của một số chuyên gia khác. Hạn chế hiện nay trong phát triển ngành là tạo ra chuỗi giá trị từ nghiên cứu và phát triển (R&D) cho đến khi tạo ra được các sản phẩm.
Trên thực tế, các nhà nghiên cứu và phát triển chip chưa đi cùng đường với các đơn vị sử dụng chip. Những đơn vị này thường tập trung vào việc sử dụng những loại chip hoặc các linh kiện điện tử đã có sẵn. Do đó, điều cần thiết hiện nay là nâng cao được năng lực R&D của các doanh nghiệp trong nước để phát triển các sản phẩm chip và đưa vào những sản phẩm thực tế, rút ngắn đáng kể quá trình phát triển và tạo ra giá trị ngay trong nước.
Ông Louis Cao cũng đề cập đến yêu cầu hợp tác, kết nối các thành phần trong chuỗi để tạo ra sức tác động lớn hơn cho ngành bán dẫn. Sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng bán dẫn về Việt Nam cũng không nên chỉ được đo bằng số lượng doanh nghiệp FDI hay số vốn đầu tư tăng thêm mỗi năm. Những tập đoàn lớn không dịch chuyển chuỗi cung ứng một cách nhanh chóng và dễ quan sát như một sản phẩm tiêu dùng mới được tung ra thị trường.