Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được xem là bước đi thể chế quan trọng, tạo nền tảng pháp lý cho Việt Nam chủ động kiến tạo động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số.
Được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2026, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) đánh dấu sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy xây dựng thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ dừng ở các ưu đãi tài chính, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được kỳ vọng mở ra một “không gian phát triển mới”, tháo gỡ những điểm nghẽn căn cốt của hệ sinh thái công nghệ cao, hướng tới mục tiêu tự chủ, tự cường và bứt phá trong cạnh tranh toàn cầu.

Một trong những điểm đổi mới quan trọng của Luật là sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận chính sách. Ưu đãi không chỉ được đo bằng mức hỗ trợ ngân sách, mà bằng khả năng tạo dựng một môi trường pháp lý đủ mở, đủ an toàn để doanh nghiệp và nhà khoa học dám đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ mới, khó và rủi ro cao.
Lần đầu tiên, Luật luật hóa khái niệm “Công nghệ chiến lược” và “Doanh nghiệp công nghệ chiến lược” – những công nghệ có tính đột phá, lan tỏa mạnh, đóng vai trò then chốt trong nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn và gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế và đất đai; các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược còn được áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt.
Theo ông Lý Hoàng Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Luật không quy định cứng một danh mục cố định các ngành công nghệ cao hay công nghệ chiến lược, mà cho phép cập nhật linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển.
“Công nghệ cao được xác định là những công nghệ có hàm lượng nghiên cứu – phát triển lớn, tích hợp thành tựu khoa học tiên tiến, có tính đột phá, tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng vượt trội và thân thiện với môi trường. Trong khi đó, công nghệ chiến lược là những công nghệ có vai trò đặc biệt trong nâng cao năng lực tự chủ quốc gia và bảo đảm an ninh, quốc phòng”, ông Tùng nhấn mạnh.
Danh mục cụ thể sẽ do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và được cập nhật định kỳ, bảo đảm bám sát yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xu thế công nghệ toàn cầu.
Một điểm đột phá mang tính nền tảng khác là việc Luật quy định rõ cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và phát triển công nghệ. Theo đó, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và đội ngũ nhà khoa học khi thực hiện R&D được áp dụng cơ chế đặc thù, không bị áp lực bởi các rào cản hành chính khi nghiên cứu không đạt kết quả như kỳ vọng.
Theo PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn.
“Đổi mới sáng tạo bản chất là chấp nhận rủi ro. Nếu vẫn quản lý R&D theo tư duy ‘không sai được’, thì rất khó tạo ra đột phá. Việc luật hóa cơ chế chấp nhận rủi ro cho thấy Nhà nước đã thực sự chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển”, chuyên gia này nhấn mạnh.

Ông Lạng cho rằng, khi rủi ro được “hợp pháp hóa” trong khuôn khổ minh bạch, doanh nghiệp và nhà khoa học mới dám đầu tư dài hạn cho những công nghệ lõi, đây là yếu tố then chốt để Việt Nam thoát khỏi vị thế gia công, lắp ráp.
Đặc biệt, với hệ thống chính sách ưu đãi đặc biệt và cách tiếp cận mới, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng kỳ vọng Luật Công nghệ cao (sửa đổi) sẽ tạo xung lực đầu tư mạnh mẽ vào R&D, thúc đẩy hình thành các “sếu đầu đàn”, tập đoàn công nghệ lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
“Luật lần này không chỉ hỗ trợ từng doanh nghiệp đơn lẻ, mà đang đặt nền móng cho một chiến lược phát triển quốc gia dựa trên công nghệ. Nếu được triển khai đồng bộ, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) sẽ góp phần dịch chuyển cấu trúc tăng trưởng, đưa công nghệ cao trở thành động lực trung tâm của nền kinh tế”, chuyên gia này nhận định.