Doanh nghiệp

“Mỏ vàng xanh” mới khi thị trường carbon hình thành

Thy Hằng 06/02/2026 03:21

Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung chính sách, sẵn sàng tham gia trao đổi, vận hành thị trường carbon trong nước, đồng thời, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ thị trường.

Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước, góp phần tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc tổ chức, vận hành thị trường carbon tại Việt Nam... Đây là một công cụ quan trọng để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

1-17118397568311990956529 (1)
Rừng trồng - bao gồm rừng trồng sản xuất và rừng trồng phòng hộ- được đánh giá là có tiềm năng đáng kể trong việc gia tăng trữ lượng carbon.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng hoàn thiện Chương trình Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Trong khuôn khổ chương trình, Việt Nam đã tạo ra 16,2 triệu tCO₂tđ giảm phát thải giai đoạn 2018–2019, trong đó, 11,3 triệu tCO₂tđ đã được giao dịch, chuyển nhượng, huy động 56,5 triệu USD.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và thể chế cho các công cụ thị trường carbon, các giải pháp tăng cường hấp thụ carbon từ rừng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt đối với rừng trồng.

Rừng trồng - bao gồm rừng trồng sản xuất và rừng trồng phòng hộ- được đánh giá là có tiềm năng đáng kể trong việc gia tăng trữ lượng carbon và đóng góp cho việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Tuy nhiên, để chuyển hóa các tiềm năng này thành kết quả giảm phát thải có thể ghi nhận như nguồn tài chính dựa trên kết quả hoặc tín chỉ carbon có thể giao dịch đòi hỏi các kết quả carbon phải được lượng hóa, xác minh và đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm tính toàn vẹn theo các tiêu chuẩn tạo tín chỉ carbon.

Báo cáo của Công ty tư vấn về biến đổi khí hậu South Pole (Thụy Sĩ) cho biết, khách hàng muốn giảm thiểu rủi ro pháp lý nên ưu tiên mức độ hoàn thiện của dự án. Lý tưởng với người mua là dự án đã ban hành tín chỉ thành công, hoàn tất chứng nhận và đạt được đồng thuận của các bên liên quan.

"Là thị trường carbon đang hình thành, Việt Nam có nhiều cơ hội lồng ghép các nhu cầu và tiêu chí từ các bên mua vào khuôn khổ thị trường carbon và Điều 6 (cơ chế hợp tác quốc tế của Hiệp định Paris về khí hậu)", Đại diện South Pole nói.

Ngoài các dự án phát hành tín chỉ carbon rừng trong tương lai ở Việt Nam, các bên mua cũng có quan tâm nhất định đến lượng tín chỉ còn dư, thuộc Thỏa thuận Chi trả Giảm phát thải khí nhà kính (ERPA) giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới.

Khảo sát của Công ty Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC) với các địa phương cũng cho hay, đa phần đang muốn bán phần tín chỉ dôi dư cho các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (80%), hoặc bán tiếp cho Ngân hàng Thế giới (60%).

Với các dự án tín chỉ carbon tương lai, 100% địa phương đánh giá REDD+ là loại hình có tiềm năng cao nhất và 60% địa phương lựa chọn IFM.

Tuy nhiên, thách thức thị trường hiện nay là hoạt động thương mại hóa tín chỉ carbon ở Việt Nam vẫn còn khoảng trống pháp lý, theo bà Đặng Thị Hồng Hạnh, Đồng trưởng nhóm và chuyên gia thị trường carbon VNEEC.

Cụ thể, Việt Nam chưa có quy định chính thức về định giá, mới chỉ có dự thảo nghị định đưa ra nguyên tắc và hai phương pháp xây dựng giá khởi điểm nên các tổ chức thiếu cơ sở định giá thống nhất.

Về chia sẻ lợi ích, chưa có cơ chế chung áp dụng cho toàn bộ tín chỉ carbon rừng. Nghị định 107 chỉ áp dụng cho ERPA, trong khi dự thảo nghị định mới dừng ở mức đề cập nguyên tắc quản lý và sử dụng nguồn thu. Ngoài ra, còn các vấn đề về sơ sở hạ tầng giao dịch và kỹ thuật, như hệ thống đăng ký quốc gia, sàn giao dịch carbon chưa vận hành, carbon rừng chưa là chỉ tiêu chính thức trong kiểm kê rừng.

anh_3_le_trung_3read_only_16520246295481704896096ok.jpg
Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng của Việt Nam hiện đang xem xét cả hai phương thức: trồng rừng mới, tái trồng rừng (ARR) và cải thiện phương thức quản lý rừng (IFM).

Theo đó, Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng của Việt Nam hiện đang xem xét cả hai phương thức: trồng rừng mới, tái trồng rừng (ARR) và cải thiện phương thức quản lý rừng (IFM) như các loại hình có thể tạo tín chỉ carbon rừng. Trong đó, một số báo cáo và nghiên cứu kỹ thuật gần đây đã nhấn mạnh IFM áp dụng cho rừng trồng hiện có, đặc biệt là phương án kéo dài chu kỳ kinh doanh như một hướng tiếp cận có tính khả thi trong ngắn hạn.

Trên thực tế, thách thức của IFM không chỉ nằm ở mức độ tham vọng về kỹ thuật, mà còn ở yêu cầu triển khai trên quy mô đủ lớn, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phù hợp với các điều kiện quản lý hiện hành.

Bên cạnh đó, tại nhiều địa phương, rừng trồng có tính manh mún cao; các quyết định vận hành như thời điểm khai thác, tái trồng hay việc tuân thủ chu kỳ kinh doanh dài hơn không chỉ phụ thuộc vào các đơn vị quản lý quy mô lớn như chủ rừng nhà nước, mà còn gắn chặt với động lực và sự tham gia của các hộ trồng rừng quy mô nhỏ.

Trong khi các nghiên cứu kỹ thuật chủ yếu tập trung vào tiềm năng carbon và các khía cạnh đo đạc - báo cáo - xác minh (MRV) của IFM, thì các vấn đề về sự tham gia của các chủ rừng và cơ chế liên kết để hình thành quy mô diện tích đủ lớn trong bối cảnh rừng trồng manh mún vẫn là những thách thức thực tiễn cần tiếp tục được trao đổi và làm rõ.

Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, trong đó cải thiện quản lý rừng trồng (IFM) được xác định là một trong các loại hình dự án đủ điều kiện.

Các chuyên gia cũng làm rõ các yêu cầu cốt lõi của dự án carbon rừng, bao gồm: tính bổ sung, xác định mức tham chiếu, đo đạc- báo cáo- thẩm định (MRV), quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn môi trường- xã hội, cũng như quy trình đăng ký và công nhận tín chỉ theo các nghị định liên quan.

Một điểm được nhấn mạnh là không phải mọi cải tiến lâm sinh đều tự động tạo ra tín chỉ carbon. Dự án chỉ được công nhận khi chứng minh được lượng hấp thụ bổ sung so với kịch bản kinh doanh thông thường.

Trong khi đó, chuyên gia VNEEC khuyến nghị sớm ban hành các nghị định và tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến sàn giao dịch carbon, trao đổi quốc tế tín chỉ, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, tiêu chuẩn quốc gia tín chỉ carbon rừng. Đồng thời, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ thị trường, gồm thể chế tài chính, tổ chức tư vấn, thẩm định và kết nối với bên mua.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
“Mỏ vàng xanh” mới khi thị trường carbon hình thành
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO