Doanh nghiệp

Nâng giá trị phụ phẩm, mở dư địa mới cho thủy sản

Quân Bảo 12/09/2026 02:25

Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng bột cá nhưng vẫn nhập khẩu bột cá đạm cao từ nước ngoài, trong khi ở chiều ngược lại thì lại phụ thuộc xuất khẩu vào một thị trường.

TS Bùi Thị Thu Hiền, Trưởng phòng Nghiên cứu Công nghệ Sau thu hoạch (Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam), cho biết tại nhiều nhà máy chế biến thủy sản Việt Nam, các nguyên liệu còn lại sau chế biến như đầu, xương, da và nội tạng cá thường bị đổ xuống đất, chứa trong các khay thô sơ. Đây là hình ảnh cho thấy tư duy phân biệt chính phẩm và phụ phẩm đang ăn sâu trong nhận thức của ngành chế biến.

Nghịch lý ở chỗ trong khi các nguyên liệu ấy bị đối xử như thứ bỏ đi, thì các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi và thủy sản tại Việt Nam vẫn đều đặn chi những khoản tiền lớn để mua bột cá đạm cao từ Peru hay Chile. Phần lớn bột cá nhập khẩu này có độ đạm vượt trội từ 65-72%, kèm theo đó là đầy đủ các chứng chỉ về truy xuất nguồn gốc và bền vững môi trường.

Cường quốc sản lượng, chưa phải giá trị

efc3cd9f-c304-4711-8bd7-b94abb6d3ead.jpg
Bà Đặng Phương Liên, đại diện Thương vụ Đại sứ quán Na Uy

Trên thực tế, Việt Nam không hề thiếu nguyên liệu. Tại diễn đàn “Liên kết chuỗi trong sản xuất bền vững bột cá, dầu cá giá trị cao” tại TP HCM, bà Đặng Phương Liên, đại diện Thương vụ Đại sứ quán Na Uy cho biết, Việt Nam hiện là nước xuất khẩu thủy sản đứng thứ 3 thế giới với sản lượng khoảng 10 triệu tấn một năm. Nhờ nguồn nguyên liệu dồi dào này, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng bột cá với khoảng 580.000 tấn mỗi năm.

Ở đầu cầu tiêu thụ, ông Duco Onnes, Tổng giám đốc Nutreco Việt Nam (Skretting), cho biết ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước hiện đứng đầu Đông Nam Á với sản lượng khoảng 20 triệu tấn một năm. Hầu như tất cả các tập đoàn thức ăn chăn nuôi lớn trên thế giới đều đã có nhà máy tại Việt Nam.

Thế nhưng những sản lượng này chưa đổi được vị thế vững chắc cho ngành bột cá Việt Nam. Ở chiều nhập khẩu, doanh nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu bột cá từ nước ngoài. Còn ở chiều xuất khẩu, tới 89% giá trị xuất khẩu bột cá của Việt Nam năm 2025 có điểm đến là Trung Quốc, tức là đang phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

TS Bùi Thị Thu Hiền phân tích rằng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ quan tâm đến chỉ số đạm tổng số mà chưa chú trọng đến đạm tiêu hóa, hay còn gọi là phần đạm hữu ích mà vật nuôi thực sự hấp thụ được.

Ví dụ một tấn phụ phẩm cá qua chế biến chỉ cho ra 160-180 kg bột cá 60% đạm, bán ra thị trường với giá khoảng 35.000 đồng/kg, lợi nhuận thu về chỉ 6-7 triệu đồng. Còn bột cá đạm peptide từ Peru có giá 300.000-400.000 đồng/kg, dù hàm lượng đạm tổng số thấp hơn.

Theo TS Bùi Thị Thu Hiền, nguyên nhân sâu xa chính là cách tổ chức sản xuất. Với tư duy xem những phần sau chế biến là “phụ phẩm”, nhiều nhà máy không đầu tư bảo quản, khiến nguyên liệu bị vi sinh vật xâm nhập, sinh mùi hôi trong quá trình vận chuyển và chờ chế biến. Mùi hôi này khiến cả dầu cá lẫn bột cá thành phẩm đều bị ảnh hưởng. Trong khi đó, quá trình xử lý nhiệt trong dây chuyền sản xuất lại làm biến tính phần protein hữu ích.

Bên cạnh đó là vấn đề về chứng nhận. Ông Phạm Ngọc Tuấn Anh, Trưởng đoàn đánh giá MarinTrust của SGS Việt Nam, cho biết trong khoảng 100-150 cơ sở sản xuất bột cá hiện nay, mới chỉ có 11 nhà máy đạt chứng nhận MarinTrust. Trong khi đó tỷ lệ nhà máy được chứng nhận MarinTrust toàn cầu đã lên đến 43%.

Thiếu chứng nhận đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất khó tiếp cận các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU hoặc Na Uy. Trong khi đây là top 3 thị trường nhập khẩu bột cá, dầu cá lớn nhất thế giới.

Kinh nghiệm quốc tế

Trước bối cảnh này, ngành thủy sản Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm và các công nghệ quốc tế để có hướng đi phù hợp.

Ông Magne Bjorge, Giám đốc Kinh doanh của Optimar AS, giới thiệu công nghệ ủ chua (silage) bằng axit formic. Đây là phương pháp ổn định độ pH nguyên liệu ngay sau khi thu gom, cho phép lưu trữ tới 6 tháng mà không cần vận chuyển bằng đá hay nước lạnh, đồng thời giảm đáng kể mùi hôi sinh học. Theo ông Bjorge, giải pháp này có thể triển khai linh hoạt từ quy mô container nhỏ 150 tấn đến nhà máy lớn, phù hợp với đặc thù doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Ở khâu chế biến sâu hơn, ông Leif Gunnar Madsen, chủ sở hữu kiêm Giám đốc Phát triển Kinh doanh của Fjell Technology Group, giới thiệu công nghệ sấy nhiệt độ thấp (LT) kết hợp giữa máy sấy khí quyển và máy sấy chân không, cho phép bay hơi phần lớn lượng nước ở nhiệt độ dưới 70 độ C trước khi hoàn tất sấy chân không. Theo ông Madsen, công nghệ này có thể tái sử dụng tới 70% năng lượng và cho ra sản phẩm bột cá đạt hàm lượng đạm 68% trở lên. Sản phẩm cao cấp này có giá gấp đôi sản phẩm chất lượng trung bình - thấp; thế nhưng cần đầu tư đường dài vì chi phí lớn.

297a4443-9b50-4a67-bcd0-f104f98eb38e.jpg
Bà Nguyễn Thị Vân Hà – Trưởng ban Biên tập Ban VASEPdigital

Bà Nguyễn Thị Vân Hà – Trưởng ban Biên tập Ban VASEPdigital (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam - VASEP), đề xuất cần có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa nhà máy chế biến thủy sản và nhà máy sản xuất bột cá. Chẳng hạn, hai bên có thể cùng chia sẻ chi phí đầu tư cơ sở bảo quản và vận chuyển phụ phẩm để cả hai cùng hưởng lợi khi chất lượng đầu vào được nâng cao.

Ông Erlend Skutlaberg, Đại diện Lâm thời Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, cho rằng công nghệ mới chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với sự thay đổi trong nhận thức và được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Với vị thế là một cường quốc thủy sản, Việt Nam hoàn toàn có thể mở rộng vị thế này với bột cá và dầu cá, miễn là đi theo đúng chiến lược ưu tiên chất lượng thay vì số lượng.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Nâng giá trị phụ phẩm, mở dư địa mới cho thủy sản
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO