Doanh nghiệp

Nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Yến Nhung • 26/09/2026 02:49

Để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng FDI, chính sách ưu đãi cần được thiết kế theo hướng gắn hỗ trợ với công nghệ, R&D, nhân lực và kết quả tham gia chuỗi.

anh 13 77
Chính sách ưu đãi cần được thiết kế theo hướng gắn hỗ trợ với công nghệ, R&D, nhân lực và kết quả tham gia chuỗi.

Việt Nam đã thu hút lượng lớn vốn FDI và trở thành một mắt xích trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị vẫn còn hạn chế. Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có khoảng 500-1.000 nhà cung ứng cấp I. Để đạt mục tiêu này, khoảng cách về năng lực của doanh nghiệp Việt cần được thu hẹp đáng kể.

Thu hẹp khoảng cách chuỗi cung ứng

Theo TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, trong hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay, chỉ khoảng 5.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; hơn 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cho các tập đoàn đa quốc gia và chỉ hơn 100 doanh nghiệp trở thành nhà cung cấp cấp I. Đáng chú ý, có tới 64,7% doanh nghiệp chưa chuẩn bị đầy đủ về công nghệ và quy trình để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Khoảng cách này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở khả năng kết nối mà trước hết là năng lực nội tại của doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Bình, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở các khâu gia công, lắp ráp, trong khi khả năng tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu, phát triển sản phẩm, thiết kế và xây dựng thương hiệu còn hạn chế.

Trong khi đó, sự gia tăng về kim ngạch xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc giá trị gia tăng trong nước tăng tương ứng. Việc nâng tỷ lệ nội địa hóa và hình thành đội ngũ nhà cung ứng Việt Nam đủ năng lực vì vậy trở thành một yêu cầu quan trọng nếu muốn tận dụng tốt hơn dòng dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đây cũng là cơ sở để nhìn lại cách thức thiết kế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Thay vì chỉ tập trung vào ưu đãi cho các dự án đầu tư mới, chính sách cần tạo động lực để doanh nghiệp đang hoạt động nâng cấp công nghệ, phát triển R&D, đào tạo nhân lực và đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ưu đãi phải đi vào năng lực doanh nghiệp

Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư Vấn Thuế Việt Nam (VTCA) cho rằng, khi chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, chính sách thuế cần chuyển từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt Nam” để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Do đó, thay vì tập trung ưu đãi cho các dự án mới, chính sách thuế cần hướng vào quá trình nâng cấp doanh nghiệp, từ đầu tư công nghệ, R&D, phát triển nhân lực đến nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường quốc tế.

Từ định hướng trên, bà Hải đề xuất nghiên cứu một gói chính sách riêng để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trước hết, cần tăng ưu đãi cho R&D, đổi mới công nghệ và tự động hóa. Doanh nghiệp đầu tư vào robot, AI, hệ thống sản xuất thông minh, thiết bị tiết kiệm năng lượng hoặc các công nghệ phục vụ trực tiếp sản xuất có thể được áp dụng cơ chế khấu hao nhanh hoặc các hình thức khuyến khích phù hợp.

Cùng với đó là chính sách thuế dành cho doanh nghiệp thực sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo bà Hải, có thể xác định doanh nghiệp đủ điều kiện dựa trên các tiêu chí như cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho tập đoàn đa quốc gia; đạt tiêu chuẩn quốc tế; có hoạt động R&D; hệ thống quản trị chất lượng và năng lực xuất khẩu.
Đối với công nghiệp hỗ trợ, ưu đãi cũng cần chuyển từ việc chỉ căn cứ vào ngành nghề sang đánh giá năng lực thực tế của doanh nghiệp, như khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, cung ứng cho doanh nghiệp FDI và tham gia xuất khẩu.

Một nhóm chính sách khác cần hướng tới các doanh nghiệp Việt có khả năng tiếp nhận những đơn hàng đang dịch chuyển vào Việt Nam. Doanh nghiệp tăng công suất, đầu tư máy móc, tuyển dụng lao động kỹ thuật, tăng doanh thu xuất khẩu hoặc cung ứng cho doanh nghiệp FDI có thể được nghiên cứu hỗ trợ về thuế trong một thời gian nhất định.

Bên cạnh đó, cải cách hoàn thuế giá trị gia tăng theo mức độ tuân thủ và rủi ro cũng có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp xuất khẩu, giúp giảm thời gian và nguồn vốn bị đọng. Chính sách thuế nhập khẩu đối với máy móc, công nghệ và nguyên liệu chưa sản xuất được trong nước cũng cần được xem xét để giảm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, nhân lực phải được đặt cùng với công nghệ. Doanh nghiệp muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu cần đội ngũ có khả năng vận hành công nghệ, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, quản trị chuỗi cung ứng và thực hiện R&D. Vì vậy, chi phí đào tạo kỹ thuật cao cũng có thể được nghiên cứu để có cơ chế khấu trừ phù hợp.

Đồng quan điểm, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng định hướng này phù hợp với Nghị quyết 10-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh tăng liên kết, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng trong nước. Cùng với đó, Nghị quyết 198/2025/QH15 đã đặt ra nhiều cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ, nhân lực, tín dụng và kết nối với các tập đoàn đa quốc gia. Đây là những chính sách cần được triển khai đồng bộ để doanh nghiệp Việt nâng năng lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO